KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, ở tại vườn Nai, thuộc Ba la nại, Đức Phật đã dạy cho năm thầy tu phương pháp chuyển hóa tất cả khổ đau, gồm những điều sau.

"Này các đệ tử, có hai cực đoan mà người xuất gia cần nên từ bỏ, đó là hưởng thụ khoái lạc giác quan phàm tục, thấp kém, không xứng hạnh thánh, và tu khổ hạnh, hành hạ thân thể vốn là khổ đau, hoàn toàn vô ích, không xứng hạnh thánh. Nhờ từ bỏ được hai cực đoan này, Như Lai khám phá con đường Trung đạo, có thể mang lại tầm nhìn, tri kiến, đưa đến an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ tuyệt đối, niết bàn an vui. Trung đạo đó là con đường tám chính: Tầm nhìn chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, siêng năng chân chính, chính niệm, chính định. Đây là Trung đạo mà đức Như Lai đã chứng ngộ được."

"Này các đệ tử, đây là sự thật về các khổ đau: Sự sinh là khổ, già nua là khổ, bệnh tật là khổ, chết chóc là khổ, chung đụng người ghét là khổ khó chịu, xa người thương yêu là khổ đoạn trường, mong muốn không được là khổ thất vọng; sầu bi khổ não… đều là khổ đau; tóm lại chấp thân năm uẩn là khổ."

"Này các đệ tử, đây là sự thật về nguồn gốc khổ: Tham ái là nhân của sự tái sinh. Phối hợp khao khát và niềm đam mê, tham ái bám víu cái này, cái nọ, chỗ này, chỗ kia, không muốn xa rời. Tham ái bao gồm ái luyến nhục dục, ái luyến sinh tồn, ái luyến hư vô. Tham lam, sân hận và sự si mê cũng là nguyên nhân dẫn đến khổ đau và nhiều bất hạnh."

"Này các đệ tử, đây là sự thật về đại niết bàn, hạnh phúc tối thượng, là sự chuyển hóa trọn vẹn tham ái, là sự xa lìa tham, sân và si, là sự kết thúc của mọi khổ đau."

"Này các đệ tử, đây là sự thật về đường thoát khổ, con đường Trung đạo, tức Bát chính đạo, gồm tám chân chính: Tầm nhìn chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, siêng năng chân chính, chính niệm, chính định."

"Này các đệ tử, đây là sự thật về các khổ đau; đây là khổ đau cần được nhận thức; đây là khổ đau đã được hiểu rõ. Đây là sự thật về nhân khổ đau; nguyên nhân khổ đau cần được chấm dứt; nguyên nhân khổ đau đã được chấm dứt."

"Đây là sự thật là phúc niết bàn; niết bàn tịch tĩnh cần được chứng ngộ; niết bàn tối thắng đã được chứng ngộ."

"Đây là sự thật về đường thoát khổ; con đường diệt khổ cần được phát triển; con đường diệt khổ đã được thành tựu."

"Này các đệ tử, đây thật là điều chưa từng được nghe từ trước đến giờ, Như Lai đạt được tầm nhìn thẩm sát, tri kiến minh sát, trí tuệ cao siêu, giác ngộ tuyệt đối, ánh sáng rực chiếu."

"Này các đệ tử, khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của đức Như Lai về bốn sự thật, gồm ba giai đoạn, mười hai phương diện chưa được sáng tỏ, thì đến lúc ấy, Như Lai sẽ không xác nhận trước mặt Phạm thiên, ma vương, Trời, người, Sa môn và Bà la môn rằng Như Lai được giác ngộ vô thượng. Đến khi tri kiến và tuệ giác lớn phát sinh rõ ràng, Như Lai tuyên bố: Tâm của Như Lai hoàn toàn giải thoát, không còn lay chuyển, thoái lui sinh tử; đây là kiếp cuối, không còn kiếp khác."

Nghe Đức Phật dạy, năm thầy Tỳ kheo vô cùng hoan hỷ, phát tâm thực tập giáo pháp mới lạ. Ngài Kiều Trần Như đạt được pháp nhãn, không còn bụi trần, sạch hết bợn tâm và thấy rõ rằng: "Cái gì có sanh tất phải có diệt."

Khi biết Như Lai lăn xe chánh pháp, chư thiên khắp nơi vang lời tán dương: "Chánh pháp Phật dạy thật là tuyệt diệu! Không có Sa môn hay Bà la môn, Trời, người, Phạm thiên, hay ma vương nào trên thế gian này có thể chuyển được pháp luân như thế ở tại vườn Nai, gần Ba la nại. Cũng không có ai trên thế gian này có thể ngăn được pháp luân vi diệu được Phật tuyên thuyết ở tại vườn Nai."

Sau khi dứt lời, Như Lai xác nhận ngài Kiều Trần Như đã được tỏ ngộ, nên được biết đến với tên gọi mới, là ngài A nhã Kiều Trần Như vậy.

KINH MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, tại chùa Kỳ Viên, thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật ôn tồn khuyên các Tỳ kheo hãy suy nghiệm kỹ, nỗ lực thực hành về pháp nhân duyên.

"Này các đệ tử, thế nào gọi là nguyên lý nhân duyên giữa các sự vật? Trong vũ trụ này, xưa cũng như nay, thật chưa từng có nguyên nhân đầu tiên tạo ra thế giới, con người, vạn vật. Tất cả sự vật nương nhau mà thành, tồn tại, phát triển, suy hoại rồi diệt, tiếp tục tạo ra quy trình bốn bước: Sanh - Trụ - Dị - Diệt theo công thức sau: Cái này phát sanh kéo theo tình trạng phát sanh cái khác. Cái này hiện hữu tạo ra tình trạng hiện hữu cái khác. Cái này không có kéo theo tình trạng không có cái khác. Cái này hoại diệt tạo ra tình trạng hoại diệt cái khác."

"Này các đệ tử, thế nào gọi là nguyên lý nhân duyên đối với con người và các chúng sinh? Do có vô minh nên có cái hành. Do có cái hành nên có tâm thức. Do có tâm thức nên có danh sắc. Do có danh sắc, có sáu giác quan. Do sáu giác quan nên có tiếp xúc. Do có tiếp xúc nên có cảm giác. Do có cảm giác nên có tham ái. Do có tham ái nên có chấp thủ. Do có chấp thủ nên có hiện hữu. Do có hiện hữu nên có tái sanh. Do có sanh ra nên có già chết. Do có già chết nên có sầu, bi, khổ, ưu và não, không thể kể xiết; từ đó hình thành cả khối đau khổ trong thân năm uẩn (thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư và các nhận thức)."

"Này các đệ tử, vô minh là gì? Là loại nhận thức không biết khổ đau, không biết nhân khổ, không biết niết bàn hạnh phúc tuyệt đối, không biết con đường chấm dứt khổ đau. Thế nào là hành? Hành có ba loại: thân hành, khẩu hành và cả ý hành. Thế nào là thức? Thức có sáu loại: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, tri giác. Trong cơ thể này, phần nào là danh? Cảm giác, tri giác, ý niệm, xúc giác và các tư duy. Thế nào là sắc? Đó là bốn đại: đất, nước, gió, lửa, và tất cả thứ có từ bốn đại. Sáu nhập là gì? Bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tiếp xúc là gì? Gồm có sáu loại: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, vị xúc, thân xúc, ý xúc. Cảm giác là gì? Gồm có ba loại: Cảm giác khổ đau, cảm giác hạnh phúc, cảm giác trung tính. Tham ái là gì? Tham ái ba loại: khao khát tính dục, khao khát hiện hữu, khao khát vô hữu. Chấp thủ là gì? Bao gồm bốn loại: chấp thủ tính dục, chấp thủ tà kiến, chấp thủ giới cấm, chấp thủ cái tôi. Hiện hữu là gì? Gồm có ba loại: hiện hữu cõi dục, hiện hữu cõi sắc, hiện hữu vô sắc. Tái sinh là gì? Tiếp nối sự sống, tái sanh các cõi hoàn toàn do nghiệp, đầy đủ xuất xứ, hình thành năm uẩn, tạo ra sự sống. Thế nào là già? Biểu hiện lão suy trên cơ thể người hay các động vật, bao gồm: da nhăn, tóc bạc, răng rụng, khí lực khô cạn, giác quan yếu kém, không còn bén nhạy, mạng sống suy dần. Thế nào là chết? Gồm các biểu hiện não ngưng hoạt động, tim ngừng nhịp đập, hơi ấm không còn, vô thường biến dịch, chia lìa người thân, trở về bốn đại, mạng sống kết thúc."

"Này các đệ tử, mười hai mắt xích nhân duyên kiếp người vừa được phân tích tạo ra đời sống trong ba thời gian (quá khứ, hiện tại và đời tương lai), từ lúc sanh ra, đến già, bệnh, chết; lại tiếp quy trình tương tự như thế, qua nhiều kiếp sống. Những gì cần nói về kiếp sống người, ta đã nói xong."

"Này các đệ tử, hãy đến gốc cây, ngồi ngoài trời thoáng, giữa bãi tha ma, hay nơi yên tĩnh… tập trung thiền định, chớ ngại gian khổ. Thời gian trôi qua, nếu không siêng tu, về sau hối hận những chuyện vô ích."

Phật vừa dứt lời, tôn giả A Nan xin Phật giải thích giá trị việc hiểu mười hai nhân duyên. Phật liền dạy rằng:

"Này các đệ tử, mười hai nhân duyên vô cùng sâu sắc, không phải là điều người thường hiểu tới. Ngày xưa đang tu, chưa đạt giác ngộ mười hai nhân duyên, ta đã trôi lăn trong đường sanh tử, không thoát ra được. Ngộ thuyết nhân duyên mười hai mắt xích, ta chặt đứt chúng, nhờ đó vĩnh viễn không còn tái sanh."

"Trong kiếp quá khứ xa xưa về trước, có một vị vua cõi A tu la tên là Tu Diệm chợt có ý nghĩ muốn bốc mặt trời và cả mặt trăng ra khỏi nước biển. Ông tự hóa thân cực kỳ to lớn, đến độ nước biển chỉ ngang hông ông. Vua Tu Diệm này có một người con là Câu Na La, tâu với vua rằng: Con muốn xuống biển, tắm cho thỏa thích. Vua Tu Diệm nói: Con chớ ham thích tắm trong nước biển. Vì nước đại dương vừa sâu, vừa rộng; không thể ở trong nước biển mà tắm. Câu Na La nói: Hiện con đang thấy độ sâu của biển chỉ ngang hông cha, có gì sâu rộng, con không sợ đâu. Không khuyên được con, vua Tu Diệm nắm thân của thái tử, thả xuống nước biển. Chân của thái tử không đụng đáy nước, lòng rất lo sợ. Vua bảo con rằng: Như con thấy đó, cha đã nói rồi, đại dương rất sâu mà con không tin. Chỉ có mình cha có thể tắm gội ở trong đại dương, còn con không thể."

"Này các đệ tử, vua Tu Diệm ấy của kiếp xa xưa chính là thân ta. Còn vị thái tử con của nhà vua chính là A Nan. Con đã từng nói: Đại dương không sâu và cũng không sao. Nhưng sự thật thì ngược lại hoàn toàn. Ai không thấu hiểu và chặt đứt được mười hai nhân duyên sẽ bị trôi lăn luân hồi vô tận, không ngày xuất ly; chìm trong mê hoặc, không nhận thức rõ gốc rễ của hành; đời này kiếp khác, kẹt trong khổ não, khó lần manh mối xuất ly sanh tử."

"Này các đệ tử, dưới cội Bồ đề sau khi thành đạo, ta đã nhận ra mười hai nhân duyên, ta thắng được ma và quyến thuộc chúng, hoàn toàn nhờ vào dứt được vô minh mà ánh trí tuệ chiếu soi cùng khắp; bóng tối lậu hoặc nhờ đó kết thúc, không còn trần cấu."

"Này các đệ tử, các con nên biết mười hai nhân duyên rất là sâu thẳm, không phải là điều mà người phàm phu có thể nghiệm ra. Tất cả các con hãy nên suy nghiệm mười hai nhân duyên, thực tập chuyển hóa, để kết thúc được mạng lưới sinh tử."

Nghe Phật khuyên dạy, tôn giả A Nan và người có mặt vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thực tập, truyền bá kinh này.

KINH BA DẤU ẤN THỰC TẠI

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ. Trước mặt Tăng đoàn, Phật dạy như sau:

"Này các đệ tử, có ba dấu ấn về các thực tại, là ba cánh cửa đi vào giải thoát, cũng là chân lý được các đức Phật truyền bá, giảng dạy, là con mắt tuệ của các đức Phật, là chỗ đi về của các đức Phật. Nay ta giảng dạy, hãy nên lắng nghe, ghi nhớ hành trì."

"Này các đệ tử, bản chất sự vật vốn là ‘không tính’. Tính ‘không’ của vật không kẹt có, không, không tự sinh ra, không mất vĩnh viễn, không vướng vọng tưởng, thoát khỏi tri kiến. Bản thể tánh ‘không’ không có hình tướng, không kẹt không gian, không thể khái niệm, chưa từng sinh khởi, vượt khỏi tri kiến và sự nắm bắt. Vì không nắm bắt, tánh ‘không’ bao hàm tất cả sự vật, tồn tại trong tánh vốn không phân biệt. Đây là nhãn quan vô cùng xác thực về các vật thể. Đó là dấu ấn của mọi sự vật."

"Này các đệ tử, người biết tu tập nên tìm yên tĩnh, như ở rừng sâu, ngồi dưới gốc cây, thực tập quán chiếu về mọi sự vật. Thấy rõ sắc chất bao gồm thân thể và mọi sự vật là không thực thể, vốn là vô thường, nhờ đó thoát khỏi tâm lý bám víu vào các hình thể, an trú trong cái thấy biết bình đẳng, không còn phân biệt sắc chất, hình thể."

"Này các đệ tử, tương tự đối với cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức, người biết tu tập nên thấy rõ rằng chúng không thực thể, vốn là vô thường, nhờ đó thoát khỏi tâm lý bám víu vào những thứ này, an trú trong cái thấy biết bình đẳng, không còn phân biệt, vướng kẹt vào chúng."

"Này các đệ tử, năm nhóm tổ hợp cấu tạo nên thân vốn không thực thể, do duyên giả hợp, tương tác lẫn nhau giữa thân và tâm. Khi tâm không còn hiện hữu trong thân thì các tổ hợp cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức không còn tác dụng. Nhận thức như thế là chánh tri kiến, hướng đến giải thoát. Nhờ tuệ nhãn này, hành giả thoát khỏi mọi sự vướng mắc liên hệ tri kiến. Phương pháp quán này là không thực thể, là dấu ấn một, là cửa giải thoát."

"Này các đệ tử, thực tập chính niệm, an trụ trong định, quán sát sự vật, hành giả thấy rằng hình thể vô ngã, tướng trạng tan biến. Nhờ thực tập này, hành giả thoát được các loại ảo giác về các hình thể. Tương tự, quán chiếu về bản chất của âm thanh, hương, vị, tiếp xúc và pháp cũng đều vô ngã, tướng trạng tan biến. Nhờ thực tập này, hành giả thoát được ảo giác về chúng. Nhờ quán vô tướng, hành giả đạt được trí tuệ thanh tịnh, diệt sạch phiền não, hết tham, sân, si, không còn chấp thủ, đạt được cái thấy bình đẳng tuyệt đối. Đồng thời hành giả không còn vướng kẹt vào cái tự ngã, về ta, của ta; chấm dứt tất cả thấy biết sai lầm. Phương pháp quán này gọi là ‘vô tướng’, là dấu ấn hai, là cửa giải thoát."

"Này các đệ tử, một khi đạt được nhận thức vô ngã, hành giả không còn cho rằng sự vật thấy, nghe, cảm, biết... là có thực thể ngoài nhận thức nữa. Nhận thức của người là do nhân duyên, tương tác phát sinh. Bản thân nhận thức và duyên phát khởi các loại nhận thức đều là vô thường, nên ta không thể nắm bắt được chúng. Trên cơ sở này, nhóm tổ hợp thức có cần gì được tác tạo nữa đâu! Với nhận thức này, hành giả thấy rõ thực tướng sự vật một cách rốt ráo, không còn bị kẹt vào các sự vật, vì đã thể nghiệm được bản chất thật của mọi sự vật. Phương pháp quán này gọi là ‘vô tác’, là dấu ấn ba, là cửa giải thoát."

"Này các đệ tử, bất kỳ người nào thực tập nhận thức về ba dấu ấn của mọi sự vật như vừa nêu trên, sẽ có khả năng đi vào cánh cửa giác ngộ, giải thoát. Đang khi thực tập nhìn các sự vật bằng ba nhận thức tánh không, vô tướng, cũng như vô tác, ta đã đạt được tri kiến thanh tịnh."

Nghe Phật giảng dạy, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thực tập, truyền bá kinh này.

KINH THỰC TẬP VÔ NGÃ

Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, ở tại vườn Nai, thuộc Ba La Nại, Đức Phật đã dạy cho năm Tỳ kheo cốt lõi thực tập vô ngã như sau.

"Này các đệ tử, hãy nhận thức rằng thân thể này đây vốn là vô ngã. Nếu thân là ngã thì trên đời này không có tình trạng thân bị bệnh tật và ta có được một thân thể khỏe như sự mong đợi: Thân thể của tôi phải như thế này, hoặc thân thể này phải như thế kia… Nhưng trên thực tế, chẳng được như thế. Vì thân vô ngã nên thân có bệnh, biến hoại, già nua, dẫn đến chết chóc; những điều mong ước về thân thể này không thể thành tựu."

"Này các đệ tử, hãy nhận thức rằng cảm giác con người vốn là vô ngã. Nếu các cảm giác đều là tự ngã thì trên đời này không có tình trạng cảm giác bị khổ và ta có được dòng cảm giác tốt như sự mong đợi: Cảm giác của tôi phải như thế này, hoặc cảm giác này phải như thế kia… Nhưng trên thực tế, chẳng được như thế. Vì cảm giác này vốn là vô ngã nên dòng cảm giác bị khổ chi phối; những điều mong ước về dòng cảm giác không thể thành tựu."

"Này các đệ tử, hãy nhận thức rằng tri giác con người vốn là vô ngã. Nếu các tri giác đều là tự ngã thì trên đời này không có tình trạng tri giác bị khổ và ta có được một tri giác tốt như sự mong đợi: Tri giác của tôi phải như thế này, hoặc tri giác này phải như thế kia… Nhưng trên thực tế, chẳng được như thế. Vì tri giác này vốn là vô ngã nên những tri giác bị khổ chi phối; những điều mong ước về những tri giác không thể thành tựu."

"Này các đệ tử, hãy nhận thức rằng tâm tư con người vốn là vô ngã. Nếu các tâm tư đều là tự ngã thì trên đời này không có tình trạng tâm tư bị khổ và ta có được một tâm tư tốt như sự mong đợi: Tâm tư của tôi phải như thế này, hoặc tâm tư này phải như thế kia… Nhưng trên thực tế, chẳng được như thế. Vì tâm tư này vốn là vô ngã nên những tâm tư bị khổ chi phối; những điều mong ước về những tâm tư không thể thành tựu."

"Này các đệ tử, hãy nhận thức rằng nhận thức của ta vốn là vô ngã. Nếu các nhận thức đều là tự ngã thì trên đời này không có tình trạng nhận thức bị khổ và ta có được một nhận thức tốt như sự mong đợi: Nhận thức của tôi phải như thế này, hoặc nhận thức này phải như thế kia… Nhưng trên thực tế, chẳng được như thế. Vì nhận thức này vốn là vô ngã nên những nhận thức bị khổ chi phối; những điều mong ước về những nhận thức khó được thành tựu."

"Này các đệ tử, hãy cho biết rằng thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư và các nhận thức vốn là thường còn hay là vô thường?"

"Bạch Đức Thế Tôn, năm tổ hợp này đều là vô thường."

"Này các đệ tử, hãy cho biết rằng cái gì vô thường là khổ hay vui?"

"Bạch Đức Thế Tôn, những gì vô thường dĩ nhiên là khổ."

"Này các đệ tử, thân thể vô thường mang đến khổ đau, chịu sự biến hoại như một quy luật. Để vượt qua khổ do thân vô thường, hãy thực tập rằng: Tất cả thứ này không phải là tôi, không phải của tôi, cũng không phải là tự ngã của tôi."

"Này các đệ tử, tương tự như thế, cảm giác vô thường, tri giác vô thường, tâm tư vô thường, nhận thức vô thường mang đến khổ đau, chịu sự biến hoại như một quy luật. Để vượt qua khổ do sự vô thường của tất cả thứ cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức, hãy thực tập rằng: Tất cả thứ này không phải là tôi, không phải của tôi, cũng không phải là tự ngã của tôi."

"Này các đệ tử, bất luận thân thể thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, thuộc trong hay ngoài, lớn hay vi tế, đẹp hay là xấu, xa hay là gần… hãy nên quán sát bằng chánh trí tuệ như chúng vốn là: Tất cả thứ này không phải là tôi, không phải của tôi, cũng không phải là tự ngã của tôi."

"Này các đệ tử, tương tự như thế, bất luận cảm giác, tri giác, tâm tư và các nhận thức thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, thuộc trong hay ngoài, lớn hay vi tế, đẹp hay là xấu, xa hay là gần… hãy nên quán sát bằng chánh trí tuệ như chúng vốn là: Tất cả thứ này không phải là tôi, không phải của tôi, cũng không phải là tự ngã của tôi."

"Này các đệ tử, nhờ nhận thức này, vị đệ tử thánh không vướng thân thể, không vướng cảm giác, không vướng tri giác, không vướng tâm tư, không vướng nhận thức. Do không vướng mắc, vị ấy đạt được trạng thái lìa tham, tâm được giải thoát. Khi được giải thoát, nhận thức rõ ràng: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết rõ: Tái sanh đã hết, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại cuộc đời này nữa."

Nghe Đức Phật dạy, năm thầy Tỳ kheo vô cùng hoan hỷ, phát tâm thực tập chuyển hoá khổ đau. Ngay sau bài kinh, tâm của năm vị đều được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.

KINH NỀN TẢNG ĐỨC TIN

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, Phật và Tăng đoàn từng bước thảnh thơi, đến thị trấn tên Kesaputa của Kalama, nước Kosala. Hôm ấy, dân chúng cung kính, quây quanh hầu chuyện Đức Phật. Có người thành kính vấn an sức khỏe. Có người cung kính đảnh lễ năm vóc. Có người lễ phép khoanh tay thưa hỏi. Có người lặng lẽ chăm chú ngắm nhìn tôn nhan Đức Phật. Vài người trong họ bắt đầu thưa chuyện:

"Bạch Đức Thế Tôn! Có các Sa môn và Bà la môn đi đến nơi này truyền đạo của họ, vị nào cũng dụ tất cả chúng con cải đạo theo họ, đồng thời nhiều vị buông lời chê bai, phê phán, khinh miệt các lời giảng dạy của các vị khác. Sự việc này làm chúng con phân vân: Vị nào tuyên bố sự thật chân chính? Đạo nào chân lý? Vị nào tuyên bố điều sai sự thật? Đạo nào không hợp chân lý cao quý? Chúng con nên theo đạo của người nào?"

Đức Phật dạy rằng: "Này các thiện tín, các vị phân vân, nghi ngờ là phải và rất tất yếu. Trong trường hợp này, các vị không nên vội tin, bác bỏ quan điểm đạo nào, khi mà các vị chưa tìm hiểu kỹ đạo ấy thấu đáo."

"Này các thiện tín, người Kalama, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về mười nền tảng của đức tin lý trí. Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là do truyền thuyết. Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống. Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc, hay tuyên truyền nhiều. Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển, sách vở. Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là các lý luận siêu hình hấp dẫn. Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó hợp với lập trường do mình chủ trương. Bảy là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được căn cứ trên dữ liệu đơn thuần. Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy rất phù hợp với định kiến của mình. Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được nhiều sức mạnh quyền uy ủng hộ. Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được nhà truyền giáo, đạo sư tuyên bố."

"Này các thiện tín, khi nghe điều gì, hãy nên quán sát, suy tư, thể nghiệm, và chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị nhận thấy: Những lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí đồng tình, tán thán. Nếu sống, làm theo các lời dạy này sẽ đưa ta đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại này và về lâu dài thì đến lúc ấy, hãy đặt niềm tin một cách chắc chắn và thực hành theo."

"Này các thiện tín, một khi tâm tham, sân, si, chấp thủ… đã được vứt khỏi nội tâm con người, thì con người ấy sẽ được hạnh phúc hay gặp bất hạnh?"

Dân Kalama đồng thanh trả lời: "Bạch Đức Thế Tôn, những người như thế sẽ sống hạnh phúc."

Đức Phật dạy tiếp: "Này các thiện tín, quả thật như thế. Khi các tâm lý tham, sân và si không còn chi phối, con người sẽ không khởi lên ý nghĩ, hành động sát hại, lấy của không cho, tà hạnh bất chính, nói sai sự thật, uống rượu, ma túy, đồng thời cũng không khích lệ người khác làm điều xấu ác. Như Lai tuyên bố sự từ bỏ ác giúp cho con người sống trong hạnh phúc, an lạc lâu dài."

"Này các thiện tín, bỏ tham, sân, si và pháp nhiễm ô là thiện hay ác, là phước hay tội, có được người trí tán thán hay không?"

Dân Kalama cùng thưa đáp rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, theo chúng con hiểu, bỏ tham, sân, si và pháp nhiễm ô là khuynh hướng thiện, là việc làm phước, bậc trí sẽ khen; người nào làm được sẽ tăng hạnh phúc, an lạc lâu dài."

Đức Phật tán thán: "Lành thay, lành thay, dân Kalama, ghi nhớ lời ta, mười điều nêu trên là nền tảng của niềm tin lý trí. Chỉ đến khi nào, quý vị suy tư, chiêm nghiệm, nhận thức, xác đáng điều gì thực sự chân chính, lợi ích cho mình và lợi người khác thì mới đem lòng tin tưởng, làm theo. Đó là tiêu chuẩn của đức tin chánh, nên học hỏi theo."

Khi nghe Đức Phật giảng dạy, phân tích, về đức tin đúng, dân Kalama vô cùng thán phục, cung kính đảnh lễ, phát nguyện trở thành Phật tử tại gia, siêng năng phụng sự Phật, Pháp và Tăng, giữ năm đạo đức, sống đời hạnh phúc.

KINH BẢY ĐIỀU NÊN BIẾT

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, tại chùa Kỳ viên do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật tập họp tất cả đệ tử và dạy như sau:

"Này các đệ tử, bất cứ ai có bảy điều nên biết sẽ được hạnh phúc, thành tựu sự nghiệp, hoan hỷ, an lạc trong pháp Hiền thánh. Bảy điều nên biết bao gồm như sau: biết rõ chánh pháp, biết rõ nghĩa lý, biết rõ thời khắc, biết sống tiết độ, biết rõ chính mình, biết rõ hội đoàn, biết sự hơn kém. Hãy lắng lòng nghe, nay ta giải thích nội dung vắn tắt bảy điều nên biết có nhiều giá trị."

"Thế nào gọi là biết rõ chánh pháp?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật phải nắm vững vàng mười hai thể loại kinh điển sau đây: chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu thuyết và quảng thuyết nghĩa. Tất cả các kinh đều lấy Tứ đế làm nơi nương tựa. Tứ đế bao gồm hai lớp nhân quả khổ và hạnh phúc. Đây là khổ đau, đây là nhân khổ, đây là niết bàn và đường bát chánh, đưa đến hạnh phúc."

"Thế nào gọi là biết rõ nghĩa lý?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật phải nắm vững vàng tất cả giáo thuyết của ta giảng dạy, phân biệt rõ ràng giáo nghĩa triết học cũng như tôn giáo nhất thần, đa thần; thấu rõ điều này, nắm vững điều kia, hiểu việc thế gian và xuất thế gian; hiểu rõ điều này có nghĩa như vậy, hiểu rõ điều kia có nghĩa như thế… Hiểu tính quy luật của mọi sự vật, hiểu rõ nhân duyên cũng như quả báo."

"Thế nào gọi là biết rõ thời khắc?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật phải nắm vững vàng khi nào tu thấp, lúc nào tu cao, khi nào buông xả; hiểu rõ thời khắc chỉ có thuận nghịch, không có tốt xấu; thời khắc thích hợp thì nên gieo nhân, thời khắc chưa đến thì biết kiên nhẫn."

"Thế nào gọi là biết rõ tiết độ?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật phải nắm vững vàng chế độ ăn uống, tiết độ ăn uống; làm chủ bản thân trong các động tác đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im lặng, giảm bớt ngủ nghỉ, tu tập chánh trí, trải nghiệm an vui."

"Thế nào gọi là biết rõ chính mình?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật biết rõ chính mình qua sáu điều sau: niềm tin vững chắc, sống hợp giới đức, đa văn học rộng, biết tu buông xả, trau dồi trí tuệ, huấn luyện biện tài."

"Thế nào gọi là biết rõ hội đoàn?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật cần biết rõ ràng hội đoàn vua chúa, hội đoàn tôn giáo, hội đoàn Sa môn, hội đoàn cư sĩ, hội đoàn xã hội, hội đoàn dân sự... Tùy từng hội đoàn, thích ứng văn hóa, ta đi như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im như vậy. Nhờ thích ứng này, ta gặp thuận lợi, sống trong an vui."

"Thế nào gọi là biết rõ hơn kém?"

"Này các đệ tử, làm đệ tử Phật cần biết rõ ràng có nhiều hạng người đối cặp với nhau, tiêu biểu như sau: người có niềm tin, người không niềm tin; người có chính tín, người sống mê tín; người thích Tăng Ni, người ghét Tăng Ni; người biết kính lễ, người không kính lễ; người biết học hỏi, người không học hỏi; người đọc kinh điển, người không đọc kinh; người thích nghe pháp, người không nghe pháp; người tư duy pháp, người không tư duy; người thực hành pháp, người không thực hành; người nghe pháp biết quán sát nghĩa lý, người nghe pháp không biết quán sát nghĩa; người hiểu biết pháp, nghĩa pháp, hướng pháp, sống tùy thuận pháp, thực hành đúng pháp, còn người thì không; người làm lợi ích cho mình và người, người thì ích kỷ chẳng biết tha nhân; người xót thương đời, người gây khổ đời; người cầu nghĩa lợi, người bỏ nghĩa lợi; người thích an lạc, người hướng hưởng thụ…"

"Trong các hạng trên, người làm lợi mình, làm lợi cho người, xót thương thế gian, sống có tình nghĩa, an lạc hạnh phúc, bây giờ tại đây… là hạng bậc nhất, số một tôn quý, đáng được kính trọng trong thế giới người. Điều này cũng như sữa có từ bò, lạc có từ sữa, sinh tô từ lạc, thục tô có được là từ sinh tô, tinh tô có được là từ thục tô. Tinh tô hơn hẳn các loại vừa nêu."

Phật vừa dứt lời, mọi người có mặt vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá kinh này.

KINH ẨN DỤ VỀ 7 HẠNG NGƯỜI DƯỚI NƯỚC

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, tại chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật tập họp tất cả đệ tử giảng dạy về bảy hạng người dưới nước:

"Một là hạng người nằm mãi dưới nước. Hai là hạng người ra khỏi nước rồi bị chìm trở lại. Ba là hạng người ra khỏi nước rồi đứng yên một chỗ. Bốn là hạng người ra khỏi nước rồi đứng nhìn xung quanh. Năm là hạng người ra khỏi nước rồi đứng nhìn xung quanh rồi mới lội qua. Sáu là hạng người ra khỏi con nước, đứng nhìn xung quanh, quyết tâm lội qua đến bờ bên kia. Bảy là hạng người ra khỏi nước rồi đứng nhìn xung quanh, lội qua bên kia, mau lên trên bờ. Hãy lắng lòng nghe, ta sẽ giảng dạy một cách vắn tắt bảy loại người trên."

Mọi người có mặt đồng thanh bạch Phật: "Bạch Đức Thế Tôn, Phật là Pháp chủ, Phật là gốc pháp. Lời kinh Phật dạy giúp chúng con hiểu ý nghĩa rộng rãi."

"Thế nào là người nằm mãi dưới nước?"

"Này các đệ tử, có một số người bị ác che lấp, tâm bị nhiễm ô, gánh chịu quả báo của nghiệp bất thiện, chìm lỉm trong biển sinh tử luân hồi, chịu nhiều khổ đau, kiếp này kiếp sau. Như người té sông, chìm lỉm dưới nước, nằm im bất động, dẫn đến tử vong."

"Thế nào là người vừa ra khỏi nước rồi bị chìm lại?"

"Này các đệ tử, có một số người đã làm trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, sau một thời gian, do vì gián đoạn, hoặc do nghịch duyên, đánh mất tín tâm, không còn kiên trì đối với việc thiện đã làm trước đây. Như người bị chìm trong nước sông hồ, nỗ lực lên bờ rồi lại sơ ý té xuống sông lớn, tiếp tục bị chìm, thật là đáng tiếc."

"Thế nào là người ra khỏi nước rồi đứng yên một chỗ?"

"Này các đệ tử, có một số người sau khi trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, vẫn tiếp tục giữ các đức tính này không để vụt mất. Cũng như có người bị chìm trong nước liền nỗ lực lớn đứng dậy khỏi nước, để được an toàn."

"Thế nào là người ra khỏi nước rồi đứng nhìn xung quanh?"

"Này các đệ tử, có một số người sau khi trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, vẫn tiếp tục giữ các đức tính này không để vụt mất, an trụ thiện pháp. Nhờ tu học pháp, họ biết như thật: đây là khổ đau, đây là nhân khổ, đây là niết bàn, đây là con đường giải thoát khổ đau. Nhờ đó dứt sạch ba trói buộc thấp: chấp thân, hoài nghi và chấp giới điều; chứng Tu đà hoàn, không đọa ác pháp, hướng đến chánh giác, tái sanh tối đa bảy lần kiếp người, vĩnh viễn vẫy chào tất cả khổ đau. Cũng như có người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh một cách an nhiên, không còn sợ hãi chết chìm trong nước, đã được an toàn."

"Thế nào là người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, rồi mới lội qua?"

"Này các đệ tử, có một số người sau khi trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, vẫn tiếp tục giữ các đức tính này không để vụt mất, an trụ thiện pháp. Nhờ tu học pháp, họ biết như thật: đây là khổ đau, đây là nhân khổ, đây là niết bàn, đây là con đường giải thoát khổ đau. Nhờ đó dứt sạch ba trói buộc thấp: chấp thân, hoài nghi và chấp giới điều. Dâm dục, giận tức và sự si mê giảm thiểu dần dần. Chỉ còn một lần vãng lai nhân gian, từ đó chứng đắc niết bàn sâu lắng. Cũng như có người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, rồi lội qua bờ, không còn sợ hãi tai nạn chết chìm, bình an vô sự."

"Thế nào là người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, lội qua bờ kia?"

"Này các đệ tử, có một số người sau khi trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, vẫn tiếp tục giữ các đức tính này không để vụt mất, an trụ thiện pháp. Nhờ có pháp nhãn, thấy biết như vậy, họ chấm dứt sạch năm trói buộc thấp, đó là tham dục, sân hận, chấp thân, hoài nghi, giới điều; sau đó sinh về cõi trời Tịnh Cư, rồi chứng Niết bàn, được pháp bất thối, không còn tái sanh cõi đời này nữa. Cũng như có người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, lội qua bờ kia, hoàn toàn an toàn khỏi nạn sông nước, bình an tuyệt đối, hưởng được an vui."

"Thế nào là người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, lội qua bờ kia, đứng vững trên bờ?"

"Này các đệ tử, có một số người sau khi trỗi dậy niềm tin vào thiện, giữ gìn giới đức, bố thí cúng dường, học rộng hiểu nhiều, tăng trưởng trí tuệ, tu các thiện pháp, vẫn tiếp tục giữ các đức tính này không để vụt mất, an trụ thiện pháp. Nhờ tu học pháp, họ biết như thật: đây là khổ đau, đây là nhân khổ, đây là niết bàn, đây là con đường giải thoát khổ đau. Nhờ có pháp nhãn, thấy biết như vậy, tâm được giải thoát khỏi ba dòng lậu: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Khi được giải thoát họ cảm nhận rõ sự thật giải thoát: tái sanh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại sinh tử này nữa. Cũng như có người ra khỏi sông nước, đứng nhìn xung quanh, lội qua bờ kia, đứng vững trên bờ, không còn mảy may nỗi lo, sợ hãi, tâm được bình an, không còn lay động."

Phật vừa dứt lời, mọi người có mặt vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá kinh này.