Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, đang cư trú tại tinh xá Kỳ Viên, trong lúc thiền quán, Thế Tôn nghĩ rằng: "Thời điểm đã đến giúp La Hầu La thuần thục trong pháp để được giải thoát. Hãy huấn luyện thêm để La Hầu La dứt sạch lậu hoặc."
Sau đó, Thế Tôn đắp y, cầm bát, vào thành Xá Vệ khất thực hóa duyên. Về lại tinh xá, Thế Tôn cho gọi thầy La Hầu La: "Này La Hầu La, hãy cầm tọa cụ, thầy và đệ tử cùng đến khu rừng Andhavana để nghỉ ban ngày."
Vâng lời Phật dạy, thầy La Hầu La theo sau Thế Tôn. Hàng ngàn thiên nhân đi theo Thế Tôn vì biết hôm nay, Thế Tôn dạy cách dứt trừ lậu hoặc. Khi đến khu rừng, mỗi người ngồi dưới một gốc cây to. Thầy La Hầu La đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên.
"Này La Hầu La, con cho thầy biết mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thế nào?"
"Kính bạch Thế Tôn, sáu giác quan là vô thường, biến hoại, dẫn đến khổ đau."
"Này La Hầu La, thật không hợp lý, nếu ai cho rằng cả sáu giác quan đều là của tôi, tự ngã của tôi. Này La Hầu La, con nghĩ thế nào, hình thái, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và ý hình dung, bản chất thế nào?"
"Kính bạch Thế Tôn, sáu nhóm đối tượng của sáu giác quan đều là vô thường, biến hoại, khổ đau. Thật không hợp lý, nếu cho chúng là của tôi, là tôi, tự ngã của tôi."
"Này La Hầu La, con cho thầy biết sáu loại nhận thức từ sáu giác quan, bản chất ra sao?"
"Kính bạch Thế Tôn, sáu giác quan và sáu đối tượng chúng đều là vô thường. Sáu loại nhận thức do sự tiếp xúc giữa các giác quan với các đối vật mà được sinh ra cũng phải vô thường, biến hoại, khổ đau. Từ gốc ý xúc kéo theo một chuỗi cảm giác, ý niệm, tâm tư, nhận thức cũng giống như thế. Không thể đồng hóa nhận thức là tôi, hay thuộc của tôi, là tự ngã tôi."
"Này La Hầu La, do thấy như trên, một người đa văn hay đệ tử thánh nhàm chán con mắt, hình thái, nhận thức và tiếp xúc mắt; đồng thời nhàm chán một chuỗi kéo theo cảm giác, ý niệm, tâm tư, nhận thức. Cách thực tập này giúp cho hành giả không còn đắm nhiễm vào các giác quan, đối tượng, nhận thức và sự tiếp xúc. Từ sự nhàm chán dẫn đến lìa tham, đạt được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết rõ ta được giải thoát: Tái sanh đã dứt, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại trạng thái sinh tử."
Nghe Thế Tôn giảng, thầy La Hầu La vô cùng hoan hỷ, thực hành lời Phật. Tâm của tôn giả đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Những người tùy tùng đạt được mắt pháp lìa trần, không dơ: "Mọi thứ trên đời, cái gì có mặt đều bị biến diệt."
Tôi nghe như vầy. Hồi ấy Thế Tôn ở một tinh xá thuộc nước Kuru. Một hôm Thế Tôn gọi các Tỳ kheo, dạy cách quán niệm:
"Có một độc lộ có thể tịnh hóa tất cả chúng sanh, vượt khỏi khổ đau, diệt trừ sầu não, thành tựu tuệ giác, chứng ngộ Niết bàn. Con đường đó là bốn điều quán niệm: quán thân là thân, quán thọ là thọ, quán tâm là tâm, quán pháp là pháp, với lòng nhiệt tâm, tỉnh thức, chánh niệm, nhờ đó diệt trừ tham đắm, sầu bi, không còn khổ đau."
"Này các hành giả, sau đây là cách quán thân như thân. Ở đây, hành giả đi đến khu rừng, hoặc ở gốc cây, hoặc ngôi nhà trống, ngồi thế hoa sen, giữ lưng ngay thẳng, chánh niệm trước mặt, tỉnh thức rõ ràng hơi thở ra vào."
"Thở vào hơi dài, ý thức rõ ràng: tôi đang thở vào một hơi thở dài. Thở ra hơi dài, ý thức rõ ràng: tôi đang thở ra một hơi thở dài. Thở vào hơi ngắn, ý thức rõ ràng: tôi đang thở vào một hơi thở ngắn. Thở ra hơi ngắn, ý thức rõ ràng: tôi đang thở ra một hơi thở ngắn."
"Khi thở hơi vào, ý thức toàn thân. Khi thở hơi ra, ý thức toàn thân."
"An tịnh toàn thân, tôi đang thở vào. An tịnh toàn thân, tôi đang thở ra."
"Đó là cách sống quán thân là thân ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán hiện tượng sinh khởi của thân. Hay quán hiện tượng hoại diệt của thân. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của thân thể này. Có thân thể này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Lại nữa, hành giả đi biết mình đi, đứng biết mình đứng, ngồi biết mình ngồi, nằm biết mình nằm. Ý thức rõ ràng vận hành của thân trong mọi động tác cũng như cử chỉ."
"Lại nữa, hành giả ý thức rất rõ tư thế động tác của thân thể mình: đi tới đi lui, ngó qua ngó lại, co duỗi tay chân, cúi xuống ngẩng lên, mặc áo đắp y, cầm bát khất thực, ăn uống nhai nếm, đại tiện tiểu tiện, đi đứng nằm ngồi, nói năng im lặng, ngay cả thức ngủ."
"Lại nữa, hành giả quán sát thân này, từ bàn chân lên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da, chứa đầy nhơ nhớp. Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng; da, thịt, gân, xương; thận, tủy, tim, gan; hoành mô, lá lách; phổi, ruột, màng ruột; bụng, phân, mật, đàm; mủ, máu, mồ hôi; mỡ thịt mỡ da; nước mắt, nước miếng; nước mủ, nước tiểu; và nước khớp xương. Phải quan sát rõ như người mắt sáng mở bao ngũ cốc, thấy rõ các loại: lúa gạo, mè, bột, đậu xanh đậu đen, hạt lớn hạt nhỏ."
"Lại nữa, hành giả quán sát thân này thông qua vị trí cũng như thứ tự của các yếu tố hình thành sắc thân: đất, nước, gió, lửa. Cũng giống như cách đồ tể khéo tay cắt từng chi phần của con bò lớn tại ngã tư đường, ai cũng thấy rõ."
"Lại nữa, hành giả quán sát thi thể người chết nằm trong nghĩa địa vài ngày. Thi thể trương sình, xanh rồi tím bầm, dần dần thối rữa. Cái thi thể ấy có thể sẽ bị quạ hay diều hâu, kên kên, chó sói, hay loài giả can hoặc các côn trùng ăn và cấu xé... Cũng có trường hợp thi thể còn nguyên, xương thịt gân da vẫn còn dính nhau. Cũng có trường hợp, chỉ còn bộ xương, thịt gân và máu đều đã rã rời, xương tay, xương chân, xương ống, xương chậu, xương sống xương sọ và xương bắp vế. Cũng có trường hợp, thi thể thành xương, trắng như vỏ ốc, hoặc tan thành bột, do để lâu năm. Hành giả thấy rõ bản chất thân này vốn là như vậy, như một quy luật, không thể khác hơn."
"Đó là cách thức hành giả thực tập quán thân là thân ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán hiện tượng sinh khởi của thân. Hay quán hiện tượng hoại diệt của thân. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của thân thể này. Có thân thể này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Này các hành giả, sau đây là cách hành giả quán sát dòng chảy cảm xúc chỉ là cảm xúc. Ở đây hành giả có cảm xúc vui thì biết rõ rằng tôi có cảm xúc hạnh phúc trong mình; có cảm xúc khổ thì biết rõ rằng tôi có cảm xúc đau khổ trong mình; khi có cảm xúc không khổ không vui thì biết rõ rằng tôi có cảm xúc trung tính trong mình. Tương tự, hành giả tuệ tri rất rõ cảm xúc khổ vui, cảm xúc trung tính, loại thuộc thân thể, loại thuộc tinh thần, phân định rõ ràng trong từng cảm xúc."
"Như vậy, hành giả quán dòng cảm xúc ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán sinh khởi của dòng cảm xúc. Hay quán hoại diệt của dòng cảm xúc. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của dòng cảm xúc. Có cảm xúc này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Này các hành giả, sau đây là cách hành giả quán sát tâm chỉ là tâm. Ở đây, hành giả thực tập chính niệm: với tâm có tham, biết tâm vướng tham; với tâm có sân, biết tâm vướng sân; với tâm có si, biết tâm vướng si. Với tâm không có tham, sân và si thì tuệ tri rằng tâm thoát ba độc. Tương tự, hành giả áp dụng tuệ tri với các tâm lý: chuyên chú, tán loạn; quảng đại, nhỏ nhoi; hữu hạn, vô thượng; định tĩnh hay động; giải thoát hay trói."
"Như vậy, hành giả quán sát cái tâm ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán sinh khởi, hoại diệt của tâm. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của chính tâm ấy. Có cái tâm này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Này các hành giả, sau đây là cách hành giả quán sát pháp chỉ là pháp. Ở đây, hành giả có thể quán sát với năm triền cái. Nội tâm có dục thì biết rõ rằng tâm tôi có dục. Nội tâm không dục thì biết rõ rằng tâm không ái dục. Hành giả nhận diện có loại ái dục trước nay chưa có nay mới sinh khởi, hoặc trước đã có nay được đoạn diệt, hoặc đã diệt rồi thì không tái hiện. Với cách quán này, hành giả thấy rõ bốn triền cái khác: tâm lý sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối và nghi. Năm triền cái này là năm phiền não che bít tâm tánh, cản ngăn không cho thiện pháp nảy sanh."
"Như vậy, hành giả thực tập quán sát pháp chỉ là pháp với năm triền cái, ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán sinh khởi, hoại diệt của pháp. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của các pháp ấy. Có các pháp này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Tương tự, hành giả có thể quán sát pháp chỉ là pháp với năm thủ uẩn. Hành giả tuệ tri: đây là sắc thân, đây là nguồn gốc tạo ra sắc thân, đây là trạng thái vắng mặt sắc thân và đây là đường đưa đến tình trạng vắng mặt sắc thân. Với cách quán này, hành giả thấy rõ bốn thủ uẩn khác: thọ, tưởng, hành, thức."
"Tương tự, hành giả có thể quán sát pháp chỉ là pháp với sáu trần cảnh. Hành giả tuệ tri: mắt và hình sắc tiếp xúc với nhau, tai với âm thanh, mũi với các mùi, lưỡi với các vị, thân với xúc chạm, ý với các pháp, phát sinh kiết sử. Hành giả biết rõ loại kiết sử nào, trước nay chưa có nay mới phát sinh, kiết sử đã sinh nay được đoạn diệt, kiết sử đã diệt không còn tái phát."
"Tương tự, hành giả có thể quán sát pháp chỉ là pháp với bảy giác chi. Hành giả tuệ tri: với tâm có niệm, biết rõ ràng là tâm tôi có niệm; với tâm thất niệm, biết rõ ràng là tâm tôi thất niệm. Hành giả biết rõ loại chánh niệm nào, trước nay chưa có nay mới phát sinh, chánh niệm đã sinh nay được thành tựu. Tương tự áp dụng sáu giác chi khác: trạch pháp, tinh tấn, hỉ và khinh an, định và hành xả."
"Tương tự, hành giả có thể quán sát pháp chỉ là pháp với bốn thánh đế. Hành giả tuệ tri: đây chính là khổ, đây là gốc khổ, đây là hết khổ và đây chính là con đường diệt khổ. Như vậy, quán sát pháp chỉ là pháp, ở trong ở ngoài, vừa trong vừa ngoài. Hoặc quán sinh khởi, hoại diệt của pháp. Hay quán hiện tượng vừa sinh vừa diệt của các pháp ấy. Có các pháp này, hành giả an trú chánh niệm tỉnh thức, hướng về chánh trí, không hề chấp thủ vật gì trên đời."
"Này các hành giả, ai tu tập được bốn pháp quán niệm trong vòng bảy năm, có thể chứng đắc chánh trí hiện tại; nếu còn dư y, chứng quả Bất hoàn. Thực ra, thời gian tu tập quán sát có thể ít hơn, chỉ cần một năm, hoặc là bảy tháng, thậm chí bảy ngày, nếu đúng phương pháp, vẫn chứng đắc được hai quả vị trên."
Khi nghe Đức Phật giảng giải phân tích về tứ niệm xứ, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thực hành, truyền bá kinh này.
Tôi nghe như vầy. Có lần ở tại Tịnh xá Kỳ Viên, thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật giảng dạy ẩn dụ thành trì như lời sau đây.
"Này các đệ tử, thành ở biên giới muốn được bền vững, không bị địch phá, phải có đầy đủ bảy điều cần có và bốn lương thực."
"Bảy điều cần có bao gồm như sau: Một là vọng gác, đắp xây chắc chắn, không thể phá vỡ, bên trong an ổn, ngăn được giặc ngoài. Hai là hào sâu, dọc theo bờ thành, kẻ giặc không dễ xâm nhập vào thành. Ba là giao thông bao quanh kinh thành phải được thông thoáng, bằng phẳng, rộng rãi, nhiều loại phương tiện có thể qua lại. Bốn là tập trung bốn loại quân binh: quân voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ, sẵn sàng đối phó với giặc bên ngoài. Năm là đầy đủ các loại vũ khí, cung, tên, mâu, kích, có thể tự vệ, chế ngự ngoại xâm. Sáu là đại tướng trấn thủ kinh thành có nhiều thao lược, cơ trí sáng suốt, bản lĩnh, dũng mãnh, cương nghị, nghiêm minh; cho người lành vào, ngăn cấm kẻ xấu, giữ trong an ổn, bên ngoài bình yên. Bảy là thành trì có tường cao dày, kiên cố, bền vững, không thể đánh úp từ phía bên ngoài."
"Này các đệ tử, bốn loại lương thực vương thành cần có bao gồm như sau: Một là sung túc các loại nước uống, nhiên liệu dự trữ, đảm bảo mọi người có thể sử dụng một cách lâu dài. Hai là sung túc các loại lúa gạo, lúa mạch, bột mì, các loại lương khô, đủ cho mọi người đang sống trong thành có thể tiêu thụ trong thời gian dài. Ba là sung túc ngũ cốc các loại bao gồm đậu niêm, đại đậu, tiểu đậu, để người trong thành có thể tiêu thụ trong thời gian dài. Bốn là sung túc các nhu yếu phẩm bao gồm thịt khô, cá khô, đường, muối, dầu, bơ, mật ong và các gia vị… có thể sử dụng một cách lâu dài."
"Này các đệ tử, bất cứ thành nào có đủ bảy việc và bốn lương thực như vừa nêu trên thì luôn vững mạnh, không sợ ngoại xâm, kẻ thù phá hoại, chỉ trừ bên trong, phân chia phá hoại."
"Tương tự như thành, vị đệ tử nào được bảy thiện pháp, bốn tâm tăng thượng sẽ không ma nào làm lung lạc được, cũng không thể bị các điều bất thiện, phiền não nhiễm ô, cạm bẫy của đời trở ngại, ngăn cản. Từ đó, tu tập một cách miên mật, không còn tái sinh."
"Này các đệ tử, bảy loại pháp lành bao gồm chánh tín, tàm quý, lương tâm, tinh tấn, đa văn, chánh niệm, trí tuệ. Hãy lắng lòng nghe Như Lai chỉ dạy."
"Thiện pháp thứ nhất là niềm tin đúng. Người tu học Phật có niềm tin vững, tin vào Như Lai là bậc tuệ giác; không theo Sa môn hay Bà la môn, không thờ Thượng đế và các thần linh; tin sâu chánh pháp gồm tứ thánh đế, giải quyết khổ đau; tin vào Tăng đoàn giới hạnh thanh cao, hướng dẫn chánh pháp, thực tập hạnh phúc."
"Thiện pháp thứ hai xấu hổ cá nhân. Những điều xấu, ác, phiền não, khổ đau thì biết xấu hổ, quyết không phạm vào; lỡ đã phạm vào, quyết tâm từ bỏ. Xấu hổ cá nhân giúp ta vượt qua thói quen tiêu cực và lối sống xấu."
"Thiện pháp thứ ba hổ thẹn lương tâm. Những gì xã hội chỉ trích lên án, luật pháp không cho thì quyết không làm. Thấy rõ nghiệp xấu tạo ra khổ đau, dẫn vào sinh tử, phát triển lương tâm, quyết không vướng vào, nhờ đó pháp lành ngày càng tăng trưởng."
"Thiện pháp thứ tư là luôn tinh tấn. Siêng năng dứt sạch các điều bất thiện. Siêng năng tu tập tất cả việc lành. Siêng năng, bền chí, quyết không từ bỏ các lý tưởng đẹp. Quyết tâm hướng đến tu tập an vui."
"Thiện pháp thứ năm học rộng hiểu nhiều. Nỗ lực học hỏi những điều đáng học. Ghi nhớ không quên những điều đã học. Hiểu rõ Phật pháp, toàn thiện phần đầu, toàn thiện phần giữa, toàn thiện phần cuối, có văn có nghĩa, dẫn đến thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc. Quyết tâm học hỏi Phật pháp cao siêu. Nhiều lần học lại, tâm không thấy chán. Chuyên tâm nghiền ngẫm, hiểu sâu tận tường, nhờ đó vượt qua tất cả khổ đau."
"Thiện pháp thứ sáu thực tập chánh niệm. Những điều Phật pháp đã được học qua, nhớ rõ không quên. Giữ gìn chánh niệm, làm chủ giác quan; đi, đứng, ngồi, nằm, tâm luôn thư thái."
"Thiện pháp thứ bảy phát triển trí tuệ. Nhờ tu tứ đế, trí tuệ tăng trưởng. Nhờ có trí tuệ, thấy rõ nhân quả, các việc hưng suy, thấu hiểu đạo đời, phân biệt rõ ràng, thành tựu sự nghiệp, dứt sạch khổ đau."
"Này các đệ tử, bốn loại lương thực, ta ví giống như bốn tâm tăng thượng. Hãy lắng lòng nghe, Như Lai chỉ dạy."
"Tâm tăng thượng một, xa lìa ái dục, từ bỏ ác pháp, có giác, có quán. Hỷ lạc phát sinh do lìa ái dục, trụ thiền thứ nhất."
"Tâm tăng thượng hai, hành giả vượt qua giác sát và quán, nội tâm tịch tĩnh, có hỷ và lạc, do định mà có, trụ thiền thứ hai."
"Tâm tăng thượng ba, hành giả vượt qua trạng thái hỷ lạc, giữ vững buông xả, không còn mong cầu, chánh niệm chánh trí, an lạc nhẹ nhàng, đạt được thánh xả, có niệm và lạc, an trụ tính không, trụ thiền thứ ba."
"Tâm tăng thượng bốn, hành giả vượt qua tất cả cảm giác hạnh phúc, khổ đau, vui mừng, lo buồn... không còn khổ vui, buông xả ý niệm một cách trọn vẹn, trụ thiền thứ tư."
"Này các đệ tử, khi một hành giả đạt bảy thiện pháp, bốn tâm cao thượng sẽ không bị các ma vương lung lạc, không bị xấu ác, ô nhiễm tấn công, sẽ không tái sinh trên cõi đời này."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương có các vọng gác, đắp xây chắc chắn, không thể phá vỡ, bên trong an ổn, ngăn được giặc ngoài. Người tu học Phật có niềm tin vững vào đức Như Lai, trọn đời không theo các bậc Sa môn hay Bà la môn, thiên ma, Phạm thiên và đạo sư khác. Người đệ tử này có gác tín tâm, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương có các hào sâu dọc theo bờ thành, kẻ giặc không dễ xâm nhập vào thành. Người tu học Phật có lương tâm sáng, cảm thấy khó chịu với điều xấu ác, phiền não, nhiễm ô, những thứ làm cho con người gặp phải những điều tai ương, khổ đau, bất hạnh, gốc của sanh tử. Người đệ tử này có hồ lương tâm, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương có đường giao thông bao quanh kinh thành phải được thông thoáng, bằng phẳng, rộng rãi, nhiều loại phương tiện có thể qua lại. Người tu học Phật có tâm hổ thẹn, cảm thấy bứt rứt với điều xấu ác, phiền não, nhiễm ô, những thứ làm cho con người gặp phải những điều tai ương, khổ đau, bất hạnh, gốc của sanh tử. Người đệ tử này có đường hổ thẹn, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương có bốn quân binh: quân voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ, sẵn sàng đối phó với giặc bên ngoài. Người tu học Phật có tâm tinh tấn, không chịu bỏ cuộc, trốn chạy, phớt lờ; chuyên tâm, bền sức, dứt trừ bất thiện, phát triển căn lành, làm việc phước thiện, không bỏ phương tiện, lợi lạc nhiều người. Người đệ tử này có quân tinh tấn, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương có nhiều vũ khí, cung, tên, mâu, kích, có thể tự vệ, chế ngự ngoại xâm. Người tu học Phật học rộng nghe nhiều, ghi nhớ, ứng dụng. Có những lời dạy toàn thiện khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng cuối, có văn, có nghĩa, thanh tịnh, hướng thượng. Học hàng trăm lần, chuyên tâm quán sát, hiểu và ứng dụng trong đời sống thực. Người đệ tử này có binh đa văn, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì ở vùng biên cương, có tướng trấn thủ có nhiều thao lược, cơ trí sáng suốt, bản lĩnh, dũng mãnh, cương nghị, nghiêm minh; cho người lành vào, ngăn cấm kẻ xấu, giữ trong an ổn, bên ngoài bình yên. Người tu học Phật thực tập chánh niệm với các chánh pháp đã từng được học, thành tựu chánh niệm, nhớ rõ không quên. Người đệ tử này có tướng chánh niệm, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, phải như thành trì có tường cao dày, kiên cố, bền vững, không thể đánh úp. Người tu học Phật có trí tuệ lớn, thấy rõ hưng, suy, nguyên nhân, gốc rễ, diệt trừ khổ đau. Người đệ tử này có tướng trí tuệ, phòng trừ bất thiện, tu các pháp lành."
"Này các đệ tử, cũng như thành trì ở vùng biên cương chứa đủ nước uống, nhiên liệu dự trữ, đảm bảo mọi người có thể sử dụng một cách lâu dài. Người tu học Phật xa lìa ái dục, các điều xấu ác, có giác, có quán, đạt được hỷ lạc do tâm xa lìa, thành tựu thiền một, an lạc, thảnh thơi, một mình tự lực đi đến Niết bàn."
"Này các đệ tử, cũng như thành trì ở vùng biên cương sung túc lương thực, để người trong thành có thể tiêu thụ trong thời gian dài. Người tu học Phật vượt qua giác, quán, nội tĩnh, nhất tâm, đạt được hỷ lạc nhẹ nhàng, thư thái do thiền định sinh, thành tựu thiền hai, an lạc sâu lắng, một mình tự lực đi đến Niết bàn."
"Này các đệ tử, cũng như thành trì ở vùng biên cương sung túc ngũ cốc, để người trong thành có thể tiêu thụ trong thời gian dài. Người tu học Phật xa lìa hỷ lạc, giữ tâm buông xả, không còn vọng cầu, chánh niệm, chánh trí, thân tâm an lạc, an trụ thánh xả, thành tựu thiền ba, đầy đủ chính niệm và sự an lạc, an trụ chân không, một mình tự lực đi đến Niết bàn."
"Này các đệ tử, cũng như thành trì ở vùng biên cương sung túc các loại thịt khô, cá khô, đường, muối, dầu, bơ, mật ong, gia vị… có thể sử dụng một cách lâu dài. Người tu học Phật vượt qua khổ, lạc, hỷ, ưu, đạt được trạng thái không còn buồn vui, xả niệm thanh tịnh, thành tựu thiền bốn, an lạc tuyệt đối, một mình tự lực đi đến Niết bàn."
Nghe Phật giảng dạy, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thực tập, truyền bá kinh này.
Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, khi lưu trú tại tịnh xá Kỳ Viên do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật cho gọi tất cả Tỳ kheo tập họp lắng nghe ngài thuyết giảng về nghệ thuật hạnh phúc trong đời hiện tại, bằng bài kệ sau:
Không chạy về quá khứ
Không rượt đuổi tương lai
Quá khứ đã qua rồi
Tương lai thì chưa đến.
Thực tại là hiện tại
Tuệ quán chính là đây.
Không động, không lung lay
Hiểu rõ, nên thực tập.
Sống nhiệt tâm hôm nay
Ai rõ chuyện ngày mai
Thần chết là quy luật
Không ai điều đình được.
Nhiệt tâm trong chánh niệm
Đêm ngày không mệt mỏi
Xứng gọi bậc hiền giả
Bậc sâu lắng, an lạc.
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là chạy về quá khứ? Có người suy nghĩ "thân thể của tôi, cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức ở trong quá khứ, đã từng thế này, đã từng thế khác" rồi tìm niềm vui trong suy nghĩ ấy; đang khi cuộc sống trong thời hiện tại thì không quan tâm. Chạy về quá khứ chỉ làm khổ tâm, hoặc tạo tiếc nuối, vốn không lợi ích cho bản thân ta ở trong hiện tại."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là rượt đuổi tương lai? Có người mong mỏi "thân thể của tôi, cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức của cái tôi này ở trong tương lai phải như thế này, phải như thế khác" rồi tìm niềm vui trong cái không thực; đang khi cuộc sống trong thời hiện tại thì không quan tâm. Rượt đuổi tương lai sẽ không thiết thực. Thay vì mong cầu những điều tương lai vốn không chắc chắn thì hãy đầu tư nhân duyên hiện tại, vì tương lai là kết quả hiện tại."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là bị lôi cuốn theo các pháp hiện tại? Những kẻ phàm phu ít nghe, kém học chánh pháp bậc thánh, không hiểu Phật pháp, không tu Phật pháp, không siêng thăm viếng, học hỏi chân nhân, nên có khuynh hướng chấp mắc cái tôi một trong các cách quan niệm như sau: Thân thể là tôi, tôi có thân thể, thân thể trong tôi, tôi trong thân thể. Tương tự cho rằng: Cảm giác là tôi, tôi có cảm giác, cảm giác trong tôi, tôi trong cảm giác; tri giác là tôi, tôi có tri giác, tri giác trong tôi, tôi trong tri giác; tâm tư là tôi, tôi có tâm tư, tâm tư trong tôi, tôi trong tâm tư; nhận thức là tôi, tôi có nhận thức, nhận thức trong tôi, tôi trong nhận thức."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là không bị lôi cuốn trong pháp hiện tại? Những người nghe nhiều giáo pháp bậc thánh, tu học Phật pháp, thấm nhuần Phật pháp, thăm viếng chân nhân, học pháp chân nhân, nên không đánh đồng: Thân thể là tôi, tôi có thân thể, thân thể trong tôi, tôi trong thân thể. Tương tự đối với cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức, người thấm Phật pháp sẽ không đánh đồng chúng với tự ngã, tự ngã với chúng. Nhờ đó thoát khỏi tất cả khổ đau trên thân và tâm, sống trong chánh niệm về sự vô ngã."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là chạy về quá khứ? Có người liên tưởng: mắt với màu sắc, tai với âm thanh, mũi với các mùi, lưỡi với các vị, da với xúc chạm, ý với đối tượng… của cái tôi này trong thời quá khứ, đã từng thế này, đã từng thế kia. Do tưởng như thế, thức bị ái dục trói chặt, sai khiến, tìm sự hân hoan thuộc về quá khứ của các giác quan."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là rượt đuổi tương lai? Có người mong mỏi: đôi mắt, lỗ tai, lỗ mũi và lưỡi, thân thể, ý tưởng của cái tôi này trong thời tương lai, phải như thế này, phải như thế kia, rồi liền hướng tâm lấy cho bằng được cái gì chưa được. Vì rượt đuổi này, người ấy hân hoan với cái chưa có trong thời tương lai. Ước vọng tương lai như vừa nêu trên hoàn toàn không có nhân duyên hiện tại, trở thành ảo vọng, không đạt được gì, ngoài sự thất vọng."
"Này các đệ tử! Thế nào gọi là không bị lôi cuốn trong pháp hiện tại? Khi mắt với sắc, khi tai với tiếng, khi mũi với mùi, khi lưỡi với vị, khi thân với xúc, khi ý với vật, trong hiện tại này, không bị tham dục và ái trói buộc, tâm của vị ấy không bị hân hoan lôi dẫn, sai khiến, vị ấy an trú vào trong hiện tại một cách chánh niệm, không bị loạn động, không bị lung lay. Đó là an lạc, hạnh phúc nhiệm mầu."
Sau khi giảng xong, Đức Phật khuyên bảo các vị Tỳ kheo hãy nên thực tập ‘hiện tại lạc trú’. Mọi người hoan hỷ, phát nguyện thực tập, truyền bá kinh này.
Tôi nghe như vầy. Khi Đức Thế Tôn đang lưu trú tại Kajangala, có Uttara, Bà la môn trẻ, là đệ tử của Pasariya đến chào hỏi ngài, rồi ngồi một bên.
"Này Uttara, đạo sư của ông, Pasariya, có giảng dạy về căn bản tu tập cho đệ tử không, nếu có là gì?"
"Thưa ngài Cồ Đàm, cách tu tập được thầy tôi dạy là không nên thấy sắc, không nên nghe tiếng bằng mắt và tai."
"Này Uttara, theo cách tu này, người mù và điếc đều đạt trọn vẹn căn bản tu tập, vì những người này không thấy, không nghe!"
Nghe Phật phân tích, chàng Uttara hổ thẹn, im lặng, thụt vai, cúi mặt, trầm ngâm, lớ ngớ. Đức Phật nói với thầy Ananda:
"Này Ananda, căn bản vô thượng đời sống đạo đức của những bậc thánh được ta giảng dạy hoàn toàn khác với Pasariya."
"Này Ananda, khi mắt thấy sắc, với tâm hài lòng, hay không hài lòng, hoặc chưa xác định, hãy tuệ tri rằng, hài lòng hay không, hoặc chưa xác định đã được xuất hiện. Cái gì xuất hiện cái đó có mặt dưới dạng thức thô. Buông xả là cái an tịnh, thù diệu. Cái gì xuất hiện đều nên dứt trừ, chỉ giữ lại xả, với một tốc độ mau chóng dễ dàng, như người có mắt, khi mắt đã mở lại nhắm mắt lại, hoặc đã nhắm rồi lại mở mắt ra."
"Này Ananda, khi tai nghe tiếng, với sự hài lòng, hay không hài lòng, hoặc chưa xác định, hãy tuệ tri rằng, hài lòng hay không, hoặc chưa xác định đã được xuất hiện. Cái gì xuất hiện cái đó có mặt dưới dạng thức thô. Buông xả là cái an tịnh, thù diệu. Cái gì xuất hiện đều nên dứt trừ, chỉ giữ lại xả, với một tốc độ mau chóng dễ dàng, như một lực sĩ dùng sức búng tay."
"Này Ananda, khi mũi nghe mùi, tương tự thấy rằng như những giọt mưa, vừa rơi trút xuống liền không đọng lại trên những lá sen. Khi lưỡi nếm vị, tương tự thấy rằng như một lực sĩ hất nhổ dễ dàng đờm trên đầu lưỡi. Khi thân xúc chạm, tương tự thấy rằng như người duỗi ra, co lại tay mình. Khi ý nhận thức, tương tự thấy rằng như từng giọt nước nhỏ rơi chậm chạp trên chậu sắt nóng, bốc khói rất nhanh. Đây được gọi là căn bản vô thượng đời sống đạo đức của những bậc thánh."
"Này Ananda, đâu là con đường của bậc hữu học? Khi mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi các mùi, lưỡi nếm các vị, thân thể xúc chạm, ý thức tưởng tượng, dù là hài lòng, hay không hài lòng, hoặc là trung tính, vị ấy nhàm chán, cảm thấy xấu hổ khi bị vướng chấp, nên không sầu não."
"Này Ananda, thế nào gọi là tu tập giác quan thuộc hàng thánh nhân? Khi các giác quan tiếp xúc trần cảnh, dù là hài lòng, hay không hài lòng, hoặc là trung tính, vị ấy mong gì thì đạt được đó: An trú với tưởng không nhàm chán vật đáng được nhàm chán, thì liền đạt được tưởng không yếm ly."
"Hoặc khi muốn rằng: An trú với tưởng nhàm chán sự vật không đáng nhàm chán, thì liền an trú vào tưởng yếm ly."
"Khi mong muốn rằng: An trú với tưởng không nhàm chán vật đáng được yếm ly, vật không đáng nhàm, thì liền an trú tưởng không yếm ly."
"Khi mong muốn rằng: An trú với tưởng nhàm chán sự vật không đáng nhàm chán; không nhàm chán vật đáng được nhàm chán, thì liền an trú tâm tưởng yếm ly."
"Hoặc khi mong rằng: Khi từ bỏ được thái độ nhàm chán, hay không nhàm chán, an trú buông xả, chánh niệm, tỉnh giác thì liền an trú trạng thái buông xả, chánh niệm, tỉnh giác."
"Này Ananda, thầy vừa giảng về căn bản vô thượng con đường tâm linh của bậc hữu học, đời sống đạo đức của các bậc thánh, tu tập giác quan của các bậc thánh. Những gì cần làm, thì bậc đạo sư làm vì từ bi, mang lại hạnh phúc cho các đệ tử; những điều như thế, thầy đã thực hiện cho các đệ tử."
"Này Ananda, đây là gốc cây, chỗ rất thanh vắng, hãy thực tập thiền nếu có buông lung, để không lo lắng hối hận về sau. Đây là lời dạy thầy xin gửi đến tất cả đệ tử."
Nghe Đức Phật dạy, ngài Ananda vô cùng hoan hỷ vâng lời làm theo.
Bấy giờ trong hội Đại tâm địa quán, sau khi thuyết giảng pháp môn Quán tâm, Đức Phật Thế Tôn, bậc thoát ba cõi, viên mãn thiền định, đạt nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí, nói với Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và người có mặt những lời như sau:
"Này các đệ tử, nay ta dạy cách phát tâm bồ đề, giúp cho mọi người hướng về giác ngộ, mau chứng được quả vô thượng chánh giác."
Bồ tát Văn Thù bạch Đức Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Như Phật đã dạy: quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, hiện tại không dừng; tất cả tâm pháp có trong ba đời, vốn không thực thể, thì tâm bồ đề dựa vào cái gì mà phát khởi được. Kính xin Thế Tôn vì giúp chúng sanh chặt bỏ lưới nghi, đạt đến bồ tát thuyết giảng chánh pháp!"
"Này các đệ tử, tất cả tà kiến có mặt từ tâm. Muốn dứt trừ được sáu mươi hai kiến và sai lầm khác, ta khẳng định rằng tâm và tâm sở vốn không thực thể. Nhờ hiểu rõ được tính không thực thể của tâm, tâm sở, các loại tà kiến không còn chỗ nơi bám víu, nương dựa. Cũng như rừng sâu là nơi nương tựa của voi, sư tử, cọp, beo, chó sói và nhiều thú dữ ẩn náu hại người; làm cho nhiều người sợ không vãng lai. Khi rừng bị phá, nhiều loại thú dữ không chỗ nương thân, có khi bị diệt. Tương tự như thế, rừng tâm đã hết, kiến chấp diệt trừ, an vui có mặt, giác ngộ hiện tiền."
"Này các đệ tử, nguyên do ta giảng tính không thực thể của tâm, tâm sở, là nhằm giúp người chuyển hóa phiền não từ tâm sinh ra. Nếu chấp "không lý" là "có" cứu cánh, thì "không tính" ấy cũng là "không" nốt. Chấp "không" thành bệnh phải mau từ bỏ! Nếu chấp vào "không" cho là cứu cánh thì rơi vào chấp mọi vật không nhân, cũng như không quả, thời có khác gì "thuận thế ngoại đạo" phủ định nhân quả."
"Này các đệ tử, như cây thuốc quý chữa lành các bệnh. Người bệnh phải uống mới hết bệnh tật. Khi bệnh hết rồi thì ngừng uống thuốc. Khi không có bệnh mà luôn uống thuốc đôi lúc thành bệnh."
"Tương tự như thế, để dứt chấp "có" nên dùng thuốc "không". Khi hết chấp có thì không phải dùng tánh không này nữa. Dùng "không" trị "có" là một phương tiện. Chấp vào "lý không" còn nguy hại hơn chấp vào cái có. Hễ còn chấp dính là còn khổ đau."
"Này các đệ tử, do nhân duyên ấy, uống thuốc "tánh không" để trừ tà kiến, tâm được tỉnh thức, hướng đến bồ đề, không có hai tướng."
"Tâm tự giác ngộ có bốn ý nghĩa, gồm hai tâm phàm và hai tâm thánh. Một là nhãn thức cho đến ý thức đều do nhân duyên nên "tự ngộ tâm". Hai là lìa tâm và tâm sở pháp; nhờ vào nguyên lý hòa hợp duyên cảnh nên "tự ngộ tâm". Hai tâm phàm này thích phát bồ đề! Hai tâm Thánh hiền được hiểu như sau. Một là quán sát lý trí như thật, hai là quán sát nhất thiết cảnh trí. Hiểu được như thế là tự ngộ tâm."
Bồ tát Văn Thù bạch Đức Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Tâm không hình tướng cũng không nơi chốn, lúc mới phát tâm, người phàm tu tập phải nương cái gì và quán thế nào?"
Đức Phật dạy rằng: "Này các đệ tử, quán tâm bồ đề như vầng trăng tròn, sáng soi trên không. Để được bất thoái, cần phải thiền tọa, thực tập chính niệm ở nơi thanh vắng, bắt ấn kim cương, quán ánh mặt trăng rồi suy nghĩ rằng: vầng trăng sáng soi không bị giới hạn. Trăng ví cho tâm, tâm chính là trăng, không nhiễm bụi trần, không chút vọng tưởng, vốn luôn thanh tịnh, nhờ đó vững tiến đến sự giác ngộ. Khi tay bắt ấn, tâm trì thần chú "đại bồ đề tâm" cũng còn gọi là "chân ngôn thanh tịnh" của các bồ tát lúc mới phát tâm. Câu chân ngôn này có uy đức lớn, giúp người tu hành vững tiến không lùi trên đường giải thoát."
"Này các đệ tử, khi người tu hành quán chiếu vầng trăng thì nên giữ gìn tâm thật đoan chính, chính niệm, tỉnh thức, không bị rung động. Đây còn gọi là "Bồ tát chính quán đại bồ đề tâm thành Phật tam muội". Hàng phàm phu nào tu pháp quán này có thể chuyển hóa năm tội Vô Gián, thập ác, bất tín và bốn tội nặng, nhờ đó được năm Tam ma địa môn, bao gồm như sau: tam muội sát na, tam muội vi trần, tam muội sợi trắng, tam muội khởi phục, tam muội an trụ."
"Thế nào gọi là tam muội sát na? Hành giả tạm thời an trụ ý niệm vào vầng trăng tròn, cũng như thân khỉ bị buộc vào trụ, không đi xa được, cũng không dừng được, khi đói khát quá, mới nghỉ chốc lát. Thực tập quán tâm, an trụ chính định chỉ trong chốc lát, thì được gọi là sát na tam muội."
"Thế nào gọi là tam muội vi trần? Hành giả tương ứng được một vài phần đối với chính định, cũng như có người thường ăn đồ đắng trong nhiều ngày liền, khi nếm chút mật ở trên đầu lưỡi, sinh tâm vui mừng, mong được nhiều mật. Từ trong vị đắng mà được chính định, hưởng chút an lạc thì được gọi là tam muội vi trần."
"Thế nào gọi là tam muội sợi trắng? Từ thời vô thủy cho đến vị lai, hàng phàm phu nào trong nhiều sanh tử, vô minh tối thẳm, đạt được chính định, như nhuộm vải đen, trong nhiều mảng đen thấy được sợi trắng nên được gọi là tam muội sợi trắng."
"Thế nào gọi là tam muội khởi phục? Những người tu hành quán tâm chưa rành, hoặc khéo thành lập hay chưa thành lập; chính định như thế là còn cao, thấp nên được gọi là tam muội khởi phục (nhô lên, xẹp xuống)."
"Thế nào gọi là tam muội an trụ? Nhờ tu tập được bốn định nêu trên, tâm được an trụ và khéo duy trì, không nhiễm trần cảnh. Cũng như mùa hè, khách bộ hành đi xuyên qua sa mạc, gặp nhiều khó khăn, cổ hóc, da phồng, không chịu được nữa, bỗng gặp nước ngọt phún lên từ núi, trải mình trong nước, không còn nóng bức, thân tâm thư thái, thì chánh định đó gọi là "an trụ". Nhập được định này, xa lìa hoặc chướng, hướng đến giác ngộ, mau đạt quả vị Bồ tát Thập địa."
Bấy giờ trong hội, tất cả mọi người nghe được kinh này vô cùng hoan hỷ, phát tâm vô thượng, hướng đến giác ngộ, chính đẳng chính giác. Chín vạn tám nghìn các vị Bồ tát đều chứng đắc được đại hoan hỷ địa.
Bấy giờ trong Hội, Đức Phật liền bảo ngài Xá Lợi Phất: "Các Bồ tát là nguyên khí Phật pháp, pháp khí của Phật, hành Bồ tát đạo luôn thực tập hạnh tứ vô lượng tâm."
"Này các đệ tử, các vị Bồ tát tu tập trọn vẹn bốn tâm vô lượng vì sự hạnh phúc của các chúng sanh, bao gồm như sau: từ ba la mật, bi ba la mật, hỷ ba la mật, xả ba la mật. Các vị Bồ tát còn phải thực tập bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Thực tập như vậy thì được gọi là mở đạo Bồ tát."
"Thế nào gọi là Bồ tát thực tập từ ba la mật? Các vị Bồ tát đang khi thực tập con đường Bồ tát là vì hướng đến giác ngộ vô thượng, nên rải tâm từ đến khắp chúng sanh trong các cảnh giới, không hề hạn lượng không gian, đối tượng. Cũng như hư không phủ trùm khắp cả, cũng như cảnh giới không có giới hạn, tấm lòng đại từ của các Bồ tát cũng không giới hạn, hướng về chúng sanh các loại lớn nhỏ, không hề phân chia. Vì cõi hư không vốn là vô biên cho nên chúng sanh cũng nhiều vô biên, do vậy tâm từ cũng là vô biên."
"Này các đệ tử, thế giới mười phương như cát sông Hằng. Giả sử có thể gom các thế giới thành biển đầy nước. Hằng tỷ chúng sanh chẻ một sợi lông thành cả trăm phần, mỗi một chúng sanh lấy một phần lông chấm lấy nước biển. Số lượng như thế là khó nghĩ bàn. Khi tu tâm từ cũng phải như thế, thương khắp chúng sanh, trải khắp pháp giới, không có giới hạn."
"Này các đệ tử, tâm đại từ này không gì thể hơn, có năng lực lớn bảo hộ tự thân, hướng về lợi ích của toàn chúng sanh. Tâm đại từ này thuộc hàng số một trong các đức tánh thuộc về vô tranh."
"Người có tâm từ sẽ không giận dữ, không còn giết hại, không gây thương tổn, không còn hận thù, dứt hết lỗi lầm, xa lìa tham ái ở trong các cõi; nhìn thấy mặt tốt và sự thanh tịnh của các chúng sanh, không nhìn mặt xấu. Người có tâm từ thường hay ban vui bằng thân, miệng, ý; không ai có thể làm hại người ấy, sống trong an ổn, thoát mọi sợ hãi. Gốc của tâm từ hướng về thánh đạo, giúp cho mọi người có niềm tin sạch, có khả năng lớn cứu khổ chúng sanh, dắt dìu mọi người hướng đến giải thoát."
"Người có tâm từ sẽ không nịnh bợ, lừa gạt, bức ép, không thích dối hiện oai nghi không thật; trang nghiêm thân tâm bằng lòng thương xót; phòng hộ chúng sanh và kẻ vô trí; được các bậc trí và trời Phạm thiên đồng tâm khen ngợi, được người quý mến, uy tín tăng trưởng."
"Tâm từ vượt khỏi phạm vi cõi trời, mở đường giải thoát, nương vào các thừa rồi về đại thừa. Tâm từ là nơi chứa phước vô nhiễm, hơn các phước thiện còn có sở y; giúp người có được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân và hảo tướng khác; giúp cho hành giả xa lìa ác đạo, thoát khỏi tám nạn; đi trên đường lành, hướng về Niết bàn."
"Người có tâm từ vui với chánh pháp, thiền định, giải thoát; chẳng màng dục lạc, ngay cả ngôi vua; có tâm bình đẳng, bố thí chúng sanh; giúp cho con người xa lìa vọng tưởng. Tâm từ giúp người học giữ luật nghi, cứu người phá giới; hiện sức nhẫn nhục, xa lìa cống cao; tinh tấn bất động, thực tập chánh hạnh, phương tiện cứu cánh."
"Tâm từ làm gốc cho tu thiền định, chánh chỉ, chánh quán và sự giải thoát. Người có tâm từ thoát khỏi phiền não, phát triển trí tuệ; nhớ rõ chánh pháp, có tâm quả quyết; đánh bại quân ma; trụ nơi an lạc."
"Người có tâm từ đi, đứng, nằm, ngồi đều có oai nghi; vượt qua tham dục. Người có tâm từ sử dụng lương tâm như loại hương hoa; dứt trừ ác đạo, phiền khổ, nạn tai. Tâm đại từ này thường cứu chúng sanh, không màng niềm vui của bản thân mình, ban cho chúng sanh nhiều điều an lạc. Tâm đại từ này có nhiều đức tính, Như Lai tóm lược vài loại mà thôi, nếu nói rộng ra không thể kể hết."
"Này các đệ tử, tâm từ có ba. Tâm từ một là chúng sanh duyên từ, tức chỗ thành tựu của các Bồ tát mới phát đại tâm. Tâm từ hai là chánh pháp duyên từ, chỗ thành tựu của Bồ tát thánh hạnh. Tâm từ ba là vô duyên từ tâm, chỗ thành tựu của các vị Bồ tát vô sanh pháp nhẫn."
"Trên đây gọi là đại từ vô lượng của đại Bồ tát. Nhờ thành tựu được tâm đại từ này, nên các Bồ tát luôn thương chúng sanh, siêng tu chánh pháp không biết mệt mỏi. Đức từ của phàm chỉ thể tự cứu. Đức từ Bồ tát cứu các chúng sanh."
"Này các đệ tử, thế nào gọi là đại bi vô lượng của các Bồ tát? Vì muốn đạt được vô thượng bồ đề nên Bồ tát lấy đại bi làm đầu; giống như hơi thở là đầu mạng sống; như vua Chuyển luân có bảy thứ báu, quan trọng đi đầu vẫn là kim luân. Bao nhiêu chánh pháp đạt được từ lâu, Bồ tát đều dùng đại bi đi đầu."
"Các vị Bồ tát thực hành đại bi, chẳng bỏ chúng sanh; phát khởi đại bi cũng vì chúng sanh. Từ việc thấy rằng tất cả chúng sanh bị bệnh chấp thân trói buộc gây khổ, bị tà kiến nhốt, các vị Bồ tát khởi tâm đại bi, thuyết pháp mầu nhiệm, giúp cho mọi người thoát khỏi tà kiến, sống trong an vui. Khi hành đại bi, thấy các chúng sanh vướng vào điên đảo, trụ vào hư ngụy, ở trong vô thường lại chấp là thường, ở trong khổ vọng lại cho là vui, ở trong vô ngã lại chấp là ngã, ở trong bất tịnh lại chấp là tịnh… các vị Bồ tát phát tâm đại bi, thuyết pháp khéo léo giúp cho mọi người thoát khỏi chấp thủ, xa lìa điên đảo, đạt được chánh kiến, sống trong an vui."
"Bồ tát nghiệm ra: "Trong cõi Ta Bà, phần lớn chúng sanh ngu si, điên đảo, say đắm ái dục. Quả thực khổ đau khi thế gian này chứa nhiều phi thánh, đầy nghi si mê, không chút hổ thẹn; thật quấy quá thay, cũng có chúng sanh sanh ra từ mẹ lại vô liêm sỉ tham ái mẹ mình. Chúng sanh nhiều tội, thật đáng thương tình, cũng thật đáng trách, bị tham sân si phá hoại, hành khổ; bỏ rơi chánh pháp, noi theo pháp ác, đọa lạc cõi xấu. Cũng có chúng sanh bất cứ ở đâu cũng sống trái đạo. Khác nào loài cheo sống trong gò mả, bị chó dữ rượt, trốn vào hố sâu, gào thét giữa đêm. Cũng như người mù từ thuở lọt lòng trốn vào hang sâu do sợ thú dữ. Giống như loài heo đứng nằm trên phân, thậm chí ăn phân mà chẳng biết nhờm. Chúng sanh như thế thật đáng tội nghiệp, bị tham ái lôi, bị phiền não hại, làm bè lũ ma, vướng trong lưới hoặc, lún trong bùn dục, làm việc bất lương, sống trong bất chánh." Vì thương chúng sanh, các vị Bồ tát phát tâm đại bi, thuyết pháp nhiệm mầu, giúp cho mọi người chuyển hóa phiền não, không còn tham dục, sân hận, si mê; sống trong an vui, hướng đến giải thoát."
"Này các đệ tử, khi hành đại bi, các vị Bồ tát thấy các chúng sanh bị năm cái che, trúng tên ái dục, nhiễm đắm sáu trần: mắt luyến tướng mạo, tai thèm nghe tiếng, mũi mê ngửi hương, lưỡi thích nếm vị, thân thích xúc chạm, ý thích hình dung. Các chúng sanh ấy sân hận, oán thù; lợi thì kết bạn, mất quyền lợi thì đường ai nấy đi. Nhiều kẻ hôn trầm, ham ăn mặc ngủ, sống trong vô trí, bị tâm nuối tiếc trói buộc không ngừng; phiền não nhiễm tâm, kẹt trong lưới nghi, bỏ buông chánh pháp. Vì thấy như thế, các vị Bồ tát phát tâm đại bi, thuyết pháp cho họ, thoát khỏi khổ đau."
"Này các đệ tử, lúc tu đại bi, các vị Bồ tát thấy các chúng sanh bị các loại mạn (ngã mạn, quá mạn và tăng thượng mạn) chi phối, làm hại, sanh lòng thương xót. Cũng có chúng sanh chấp thân là ngã, hoặc chấp cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức làm ngã. Có các chúng sanh chưa chứng lại cho mình đã chứng đắc, tỏ ra tự phụ, không chịu học hỏi điều đáng học hỏi; không kính tôn trưởng, không trọng đạo sư. Đối với người trí, không chịu học hỏi về thiện, bất thiện, điều gì nên tu, điều gì nên bỏ; thế nào là tội, thế nào là đạo; đâu là chánh định, đâu là giải thoát. Vì thương chúng sanh nên các Bồ tát phát tâm đại bi, thuyết pháp khéo léo, giúp họ dứt sạch các tâm kiêu mạn và sự chấp ngã; sống trong an vui."
"Này các đệ tử, khi thấy chúng sanh bị dây ái trói, làm mọi cho tình, vợ chồng ràng buộc, con cái lo toan, các thứ vô nghĩa đeo bám vây quanh, họa suy theo đuổi; bị khóa sanh tử nhốt khó thoát ra; bị các cõi xấu giam nhốt lâu dài, chẳng được tự tại; các vị Bồ tát phát tâm đại bi cứu độ tất cả, không có phân biệt."
"Khi thấy chúng sanh xa lìa thiện hữu, giao du bạn xấu, tạo mười nghiệp ác (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, chia rẽ, cộc cằn, tán dóc, tham lam, sân hận, tà kiến) các vị Bồ tát phát tâm đại bi, thuyết pháp giáo hóa, giúp họ dứt ác, tu mười nghiệp lành, sống trong hạnh phúc."
"Cũng có chúng sanh bị si mê che, điên đảo khống chế; chấp ngã và pháp vào các thứ như tự thân, hữu tình, mạng giả, nhơn giả, thiếu niên, trượng phu, tác giả, thọ giả, ngã và ngã sở… chìm trong chấp thủ, chẳng chịu buông bỏ. Vì thương chúng sanh nên các Bồ tát thuyết pháp giáo hóa, giúp họ phát huệ, dứt sạch kiến chấp, sống trong an vui."
"Cũng có chúng sanh mê đắm sanh tử, vướng kẹt luân hồi, chạy theo ngũ ấm, chẳng bỏ ba cõi, bị kẹt tam giới, chẳng lo tháo gỡ gông cùm xiềng xích thoát khỏi khổ đau. Vì thương chúng sanh, các vị Bồ tát phát tâm đại bi thuyết pháp giáo hóa, thoát khỏi ba cõi."
"Cũng có nhiều người sanh từ nghiệp ác, như quả bóng lăn, do nghiệp xấu này, trôi lăn sanh tử, trật đường niết bàn. Vì thương chúng sanh, các vị Bồ tát phát tâm đại bi thuyết pháp giáo hóa, giúp cho chúng sanh đạt được niết bàn, hạnh phúc tuyệt đối."
"Này các đệ tử, các vị Bồ tát còn tu mười loại đại bi chuyển tướng. Tâm đại bi này, chẳng do dua nịnh, hay tâm cao ngạo, giả dối, bất chân, dao động, khiếp nhược, mà chứng đạt được. Tâm đại bi này của các Bồ tát có được là do bảo hộ hữu tình, tu tập thanh tịnh, tu huệ kiên cố, tâm đạt bất động; bỏ vui của mình, nâng đỡ chúng sanh, tinh tấn không dừng… và nhiều đức thiện mới thành tựu được."
"Này các đệ tử, tâm đại bi này là nền tảng của sáu ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ), bốn pháp chánh niệm (thân, thọ, tâm, pháp), bốn pháp tinh tấn, bốn như ý túc, năm năng lực lớn, bảy điều giác ngộ và tám chánh đạo, các thứ đệ định, mười thiện nghiệp lớn và các công đức, thậm chí trí huệ của đức Như Lai. Tâm đại bi này là việc mình làm, làm chẳng thay đổi, làm cho viên mãn, như ý sở nguyện. Do thành tựu được tâm đại bi này, các vị Bồ tát thương xót chúng sanh, giáo hóa vô lượng."
"Này các đệ tử, thế nào gọi là đại hỷ vô lượng của các Bồ tát? Khi các Bồ tát nỗ lực đạt được giác ngộ tuyệt đối để độ chúng sanh, cần tu đại hỷ với vô lượng tướng."
"Đại hỷ còn gọi niềm vui vi diệu nhớ nghĩ pháp lành, vì không buồn chán, không có thoái lui, không có mỏi mệt đối với pháp lành. Đại hỷ còn gọi tâm lìa đam mê, ưa thích thế gian, vì tâm trụ vào niềm vui chánh pháp. Đại hỷ làm cho trong tâm vui mừng, thân thêm dũng cảm, vì có trí sâu, tâm ý thơ thới. Đại hỷ ưa thích thân của Như Lai, vì chỉ hướng về tướng hảo trang nghiêm; chứ không vướng lụy chủ nghĩa hình tướng."
"Người có tâm hỷ thích nghe chánh pháp, không có mệt mỏi, vì thấy rõ rằng tu theo chánh pháp có an vui lớn. Do có tâm hỷ, con người vui thích, siêng làm chánh pháp; không hề tổn hại tất cả chúng sanh; ưa thích bồ đề, tin hiểu đại thừa, thực hành rốt ráo. Tâm hỷ còn gọi chuyển hóa tham lam và sự bỏn xẻn, vì thích bố thí với người đang cần. Do có đại hỷ nên biết thương xót người lỡ phạm giới, thường làm chính mình giới hạnh thanh cao, vì thấy rõ rằng người sống với giới thì tâm thanh tịnh."
"Đại hỷ còn gọi niềm vui an ổn, thoát mọi sợ hãi đọa lạc đường ác. Người có tâm hỷ kham nhẫn lời độc, lời mắng của người, không khởi oán thù, không có hờn giận, không có bạo lực, không có trả đũa. Người có tâm hỷ thường tu cung kính các bậc trưởng thượng đầy đủ oai nghi. Đức hỷ là tâm luôn trong vui vẻ, tâm ý hài hòa, xa lìa phiền muộn, ngỏ lời thăm hỏi với mọi người trước. Đức hỷ xa lìa những sự dua nịnh, gian dối, lừa gạt, áp bức, đòi hỏi, vì có xu hướng về đường chánh pháp."
"Người tu đại hỷ xem các Bồ tát như bậc đại sư, yêu mến chánh pháp như thân thể mình, tôn kính Như Lai như mạng sống mình, thương kính thầy tổ như cha mẹ ruột, thương mến chúng sanh như các con ruột, kính trọng thầy dạy như tròng mắt mình, noi theo chánh hạnh như đầu của mình, thích ba la mật như quý tay chân, trọng các pháp sư như thích của báu, thích học chánh pháp như thang thuốc hay, thích nghe chỉ lỗi như quý lương y."
"Nhờ an trụ vào tâm đại hỷ này, thực hành trọn vẹn con đường Bồ tát nên luôn vui mừng, siêng cầu chánh pháp, không chút nhàm chán, có nhiều tiến bộ, an vui, hạnh phúc. Ai muốn hạnh phúc, hãy nên siêng năng thực tập, trải nghiệm tâm đại hỷ này."
"Này các đệ tử, thế nào gọi là đại xả vô lượng của các Bồ tát? Bất kỳ là ai, khi đã phát tâm hướng về giác ngộ vô thượng tuyệt đối, cần luôn siêng năng, tu tâm đại xả. Xả có ba loại. Một là buông bỏ tất cả phiền não. Hai là đức xả bảo hộ mình, người. Ba là đức xả thời và phi thời."
"Này các đệ tử, thế nào là xả buông các phiền não? Với bậc tôn thờ, tâm không cao ngạo. Với chỗ không thờ, tâm không xem thường. Được người quý trọng, tâm không kiêu căng. Không được lợi dưỡng, tâm không uất ức. Với người tốt xấu, tâm luôn bình đẳng. Được danh dự lớn, tâm không vui mừng. Lúc bị chê bai, tâm không buồn giận. Khi được ca ngợi, tâm hướng về pháp. Khi bị quở trách không hề nản chí. Biết dùng trí tuệ vượt qua khổ đau. Trước các thú vui, tu quán vô thường để buông ái dục và tâm hờn giận. Với người thân, sơ luôn luôn bình đẳng. Tâm thường không hai trước các thiện ác. Khi được yêu mến, tâm chẳng rung động. Không hề chấp trước điều nghe tốt xấu. Tâm không thương ghét đối với thiện ác. Biết sống tiết chế đối với thức ăn. Thể hiện bình đẳng đối với mọi giới, các loài chúng sanh, pháp ẩn pháp hiện. Không quá tham luyến mạng sống bản thân. Tâm luôn thanh tịnh trước mọi hoàn cảnh. Đây còn gọi là năng lực đối trị, nhằm buông xả được tất cả phiền não, nỗi khổ niềm đau, để được an vui."
"Này các đệ tử, thế nào là xả bảo hộ mình, người? Khi bị thương tổn thân thể, tay chân, người tu Bồ tát quán sát nội tâm, an trụ đại xả, không chút hờn oán, không hề trả thù; có lòng kham nhẫn với lời xúc phạm. Nhờ tâm xả này, ta bảo hộ ta, bảo hộ người khác. Người tu tâm xả không hề tổn hại nhãn tướng, sắc tướng, ý tướng, pháp tướng. Tâm không tổn hại chính là đại xả bảo hộ mình, người. Bị người hãm hại, không hề trả thù. Kham nhẫn tất cả hành động của người. Bình đẳng giúp đỡ người ơn, vô ơn. Quyết tâm buông bỏ những gì chấp trước. Đây còn gọi là đức xả vô tranh, đức xả chuyển hóa nhờ sự quán chiếu. Ngoài tu buông xả trong mọi thời gian, các vị Bồ tát còn tinh tấn tu rất nhiều chánh hạnh, ngày đêm tinh tấn, cầu các pháp lành, hướng về giác ngộ."
"Này các đệ tử, thế nào là xả thời và phi thời? Các vị Bồ tát có trí tuệ lớn thường hay tu tập thời và phi thời. Tức tu buông bỏ chúng sanh phi pháp, kẻ không niềm tin, những điều bất lợi, những kẻ chê bai, người tâm nhỏ hẹp. Thực tập bố thí để buông chấp vật. Biết buông bố thí để tu giới hạnh. Tu giới hạnh xong, biết tu kham nhẫn. Tu kham nhẫn xong, biết tu tinh tấn. Tu tinh tấn xong, biết tu thiền định. Tu thiền định xong, biết tu trí tuệ. Tu trí tuệ xong, biết tu đầy đủ năm ba la mật như vừa nêu trên. Bất cứ người nào, trụ vào đại xả mà quyết tâm tu hạnh đại Bồ tát thì luôn buông xả tất cả pháp ác."
"Này các đệ tử, ai tu tập được các đức hạnh trên thì được gọi là Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả của đại Bồ tát. Ai an trú vào bốn ba la mật từ, bi, hỷ, xả, biết mình chính là nguyên khí Phật pháp và tạng Bồ tát; phải siêng giữ gìn, chớ để mất đi."
"Này các đệ tử, các con hãy gắng tu tập trọn vẹn bốn tâm vô lượng, sáu ba la mật và bốn nhiếp pháp, mang lại lợi lạc cho mình và người."
Nghe Phật giảng dạy, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá kinh này.
Làm người đệ tử Như Lai
Hết lòng đọc tụng đêm ngày chớ quên:
"Tám điều giác ngộ" làm nên
Các hàng Bồ tát thẳng lên đạo vàng.
Một là muôn vật vô thường
Cuộc đời biến đổi, thế gian sao dời
Bốn điều cấu tạo muôn loài
Vốn không thực thể, chơi vơi khổ nhiều
Con người hợp thể năm điều
Vốn không có ngã, sớm chiều diệt sanh
Ngụy hư, vô chủ, mong manh
Tâm: nguồn tạo nghiệp luân trầm bấy lâu
Thân này tích tụ nghiệp sầu.
Quán soi như vậy, khổ đau giã từ!
Hai là nên quán tâm tư:
Tham nhiều nên khổ cũng như thác ngàn
Rằng trong cái kiếp tử sanh
Dục tham, khát ái: ngọn ngành khổ đau
Ai người biết đủ, ít cầu
Thản nhiên, tự tại thẳm sâu trong lòng
Cởi trói buộc, sống thong dong
Thẳng đường thoát tục, ra vòng trầm luân.
Ba là giác ngộ được rằng:
Tâm theo danh lợi, dầm đường gian nguy
Lỗi lầm càng lớn, càng suy
Các hàng Bồ tát tâm thì khác xa:
Thanh bần, biết đủ, thiết tha
Sự nghiệp tối thượng chỉ là "trí" thôi.
Bốn là giác ngộ biếng lười
Là đường đọa lạc con người chúng sanh
Vậy nên gắng bước đạo lành
Bốn ma diệt sạch, xua tan não phiền
Vượt ra tù ngục ba miền
Thoát nhà năm uẩn, như nhiên tự mình.
Năm là giác ngộ vô minh:
Ngục tù giam nhốt, tử sinh bao lần.
Các hàng Bồ tát chuyên cần:
Nghe nhiều, học rộng, trí năng sáng ngời
Phát huy hùng biện độ đời
Sống trong phúc lạc, an vui, thoát nàn.
Sáu là giác ngộ được rằng:
Khổ nghèo gây cảnh thù căm, oán hờn
Thế rồi nghiệp xấu chất chồng
Các hàng Bồ tát chuyên ròng ban cho
Làm từ thiện, chẳng thân sơ
Người thương, kẻ ghét như là người thân.
Bỏ qua điều ác người làm
Bao dung, hỷ xả, rải ban tâm lành.
Bảy là giác ngộ ngọn ngành
Năm dục tội lỗi, hoành hành khổ đau.
Người xuất gia trước như sau:
Bỏ vui thế tục, thẳm sâu đạo vàng
Ba y, một bát, thanh bần
Sạch trong nết hạnh, đảm đang cuộc đời
Tình thương trải khắp mọi người
Quyết tròn chí nguyện, rạng ngời tâm linh.
Tám là biết lửa tử sinh
Đốt thiêu muôn loại, trầm mình đớn đau
Phát tâm lớn, độ đời mau
Thay đời chịu đựng khổ sầu dọc ngang
Để đời đạt được lạc an
Niềm vui cứu cánh, tràn dâng tâm hồn.
Tám điều giác ngộ nói trên
Được Bụt, Bồ tát, đại nhân thực hành
Từ bi, trí tuệ sẵn dành
Nương thuyền thân pháp, niết bàn đến nơi.
Vào sanh tử, độ trời người
Tám điều giác ngộ cho đời khỏi đau
Bỏ năm dục, hướng đạo mầu
Con đường tám thánh, cao sâu ân tình!
Làm phật tử phải chuyên tinh
Đọc rồi quán tưởng, thực hành chớ quên
Tội vô lượng, diệt sạch trơn
Tử sanh rơi rụng, lạc an vĩnh hằng!
Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, ở chùa Kỳ Viên do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, Đức Phật triệu tập tất cả tu sĩ rồi giảng giải về pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc. Ngài dạy như sau:
"Này các đệ tử, Như Lai giảng giải về bảy cách thức chấm dứt lậu hoặc cho người thấy, biết; chứ không cho người chẳng biết gì cả. Này các đệ tử, do không có được tác ý như thật mà các lậu hoặc bắt đầu có mặt, lậu hoặc có mặt được tăng trưởng nhanh. Tác ý như thật sẽ giúp hành giả diệt trừ tận gốc tất cả lậu hoặc, cả cũ lẫn mới."
"Này các đệ tử, có những lậu hoặc phải được chấm dứt bằng chánh tri kiến, có những lậu hoặc phải được chấm dứt do tâm phòng hộ, có những lậu hoặc phải được chấm dứt do tiêu thụ đúng, có những lậu hoặc phải được chấm dứt do tâm kham nhẫn, có những lậu hoặc phải được chấm dứt do biết tránh né, có những lậu hoặc phải được chấm dứt do biết trừ diệt và có lậu hoặc phải được chấm dứt do biết tu tập."
"Một là lậu hoặc được chấm dứt sạch bằng chánh tri kiến."
"Này các đệ tử, có kẻ phàm phu kém học ít nghe, không gặp bậc Thánh hay bậc chân nhân, không biết cặn kẽ giáo pháp bậc Thánh, không có tu tập giáo pháp bậc Thánh; không thấy rõ được những gì là điều cần được tác ý nên để ý đến những việc không cần, đang khi những điều không cần tác ý thì lại để ý. Kết quả xấu là, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu sẽ được sanh khởi, ba lậu đã sanh tiếp tục tăng trưởng. Những người thực tập tác ý như thật sẽ không vướng kẹt vào các suy nghĩ thuộc về quá khứ: "Tôi đã có mặt hay không có mặt trong thời quá khứ? Nếu từng có mặt thì thời quá khứ, tôi đã là ai, tôi như thế nào, hình thù ra sao, thân phận thế nào?" Người ấy cũng không bị vướng kẹt vào các suy nghĩ gì thuộc về tương lai: "Tôi sẽ có mặt hay không có mặt trong thời tương lai? Nếu sẽ có mặt trong thời tương lai, tôi sẽ là ai, tôi như thế nào, hình thù ra sao, thân phận thế nào?" Đồng thời vị ấy cũng không nghi ngờ về bản thân mình trong thời hiện tại: "Tôi đang có mặt hay không có mặt? Nếu tôi đang có trong thời hiện tại thì tôi là ai, tôi như thế nào, hình thù ra sao, tôi từ đâu đến, tôi chết về đâu?"
"Này các đệ tử, nếu người thực tập tác ý như thật đối với quá khứ, hiện tại, vị lai, sẽ không vướng kẹt một trong các loại tà kiến sau đây: "Tôi có tự ngã; tôi hoàn toàn không có tự ngã nào; do bản thân tôi, tôi tưởng tri rằng tôi có tự ngã; do bản thân tôi, tôi tưởng tri rằng không có tự ngã; không do tự mình, tôi tưởng tri rằng tôi có tự ngã; chính tự ngã tôi nói năng, cảm giác, rồi chịu quả báo các nghiệp thiện ác đã từng tạo ra chỗ này, chỗ khác và tự ngã này vốn là thường trú, thường hằng, bất biến."
"Này các đệ tử, các quan niệm trên đều là tà kiến, còn được gọi là tà kiến trù lâm, tà kiến hoang vu, tà kiến hý luận, tà kiến tranh chấp, hay kiến kiết phược. Vì bị trói buộc bởi kiến kiết sử, những người phàm phu không giải thoát được sanh, già, bệnh, chết, bị vướng sầu, bi, khổ, ưu và não; không thoát khỏi được mắc xích khổ đau."
"Này các đệ tử, người thực tập được tác ý như thật sẽ thấy rõ ràng: Đây là khổ đau, đây là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, đây là niết bàn hạnh phúc tối thượng, đây là con đường chấm dứt khổ đau. Nhờ thực tập này, ba trói buộc tâm: thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ được bứng gốc rễ."
"Hai là lậu hoặc được chấm dứt sạch bằng tâm phòng hộ."
"Này các đệ tử, nếu có người nào quán sát như thật, luôn luôn phòng hộ cả sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý) thì các lậu hoặc và các phiền não sẽ được chuyển hóa, không còn điều kiện tiếp tục có mặt, huống là phát triển. Nhờ thực tập này, khổ đau kết thúc, hạnh phúc tràn đầy."
"Ba là lậu hoặc được chấm dứt sạch do tiêu thụ đúng."
"Này các đệ tử, nếu có người nào quán sát như thật về mục đích chính của các y phục là để che đậy thân khỏi trần truồng; ngăn ngừa nóng, lạnh, ruồi, muỗi và gió; các loài bò sát; ánh nắng mặt trời... Đối với thực phẩm thì thấy rõ rằng mục đích ăn uống không nhằm hưởng thụ, đam mê, vui đùa; không nhằm trang sức, tự làm đẹp mình; cốt giúp thân này khỏe mạnh, sống lâu, thoát khỏi đau bệnh, hỗ trợ đời sống giới hạnh thanh cao. Đối với giường, chiếu, mùng, mền và gối… thì nên xem là giải trừ nguy hiểm của nóng và lạnh, tránh sự xúc chạm của ruồi và muỗi, giúp ta sống tốt cuộc đời độc cư, an tịnh, thanh cao. Đối với dược phẩm thì nên xem rằng đây là thuốc tốt, trị bệnh của thân, dừng cảm giác đau đã từng có mặt, không còn sầu não."
"Này các đệ tử, nhờ sử dụng đúng mục đích y phục, ăn uống, giường chiếu, thuốc thang, nhờ đó các cảm giác cũ đều được chuyển hóa, các cảm giác mới không được xuất hiện; người tu vượt qua tất cả lỗi lầm, sống trong an ổn."
"Bốn là lậu hoặc được chấm dứt sạch do biết kham nhẫn."
"Này các đệ tử, nhờ có thực tập quán sát như thật về thân thể này nên kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát; sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; những lời mạ lỵ, phỉ báng, chỉ trích… Nhờ đó làm chủ cảm giác đau nhức, thống khổ, bi thương, chết điếng cả người; bất mãn, chán chường, sầu lo, tuyệt vọng. Nhờ tập kham nhẫn đối với thân thể, tất cả lậu hoặc và các phiền não không còn tồn tại, tâm được an lạc, tự tại, thảnh thơi."
"Năm là lậu hoặc được chấm dứt sạch do biết tránh né."
"Này các đệ tử, nhờ có thực tập quán sát như thật nên tránh né được các loại thú dữ; vực núi, hố sâu; vũng lầy, ao nhớp; gai góc, cây cối… Quyết không lai vãng những nơi không tốt. Không đứng và ngồi những chỗ không đáng. Không giao du với những phường bất chánh, dễ bị nghi ngờ về nhân cách tốt. Nhờ biết tránh né, tất cả lậu hoặc và các phiền não không còn tồn tại, tâm được an lạc, tự tại, thảnh thơi."
"Sáu là lậu hoặc được chấm dứt sạch do biết đoạn trừ."
"Này các đệ tử, nhờ có thực tập quán sát như thật nên không chấp nhận tâm niệm ái dục, sân hận, hủy hoại và các bất thiện… quyết tâm từ bỏ, trừ diệt hoàn toàn, không cho tồn tại các tâm niệm ấy. Nhờ biết thực tập đoạn trừ niệm ác, tất cả lậu hoặc và các phiền não không còn tồn tại, tâm được an lạc, tự tại, thảnh thơi."
"Bảy là lậu hoặc được chấm dứt sạch do biết tu tập."
"Này các đệ tử, nhờ có thực tập quán sát như thật nên tu tập được bảy điều giác ngộ, bao gồm chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hoan hỷ, khinh an, thiền định, buông xả, người tu viễn ly những điều bất thiện, dứt được tham ái và các khổ đau. Nhờ biết tu tập, tất cả lậu hoặc và các phiền não không còn tồn tại, tâm được an lạc, tự tại, thảnh thơi."
"Này các đệ tử, nhờ tu đúng cách, nên lậu hoặc nào phải được chấm dứt bằng chánh tri kiến thì dùng chánh kiến; những lậu hoặc nào phải được chấm dứt do tâm phòng hộ thì dùng phòng hộ; những lậu hoặc nào phải được chấm dứt do tiêu thụ đúng thì phải sử dụng cách tiêu thụ đúng; những lậu hoặc nào phải được chấm dứt do tâm kham nhẫn thì dùng kham nhẫn; những lậu hoặc nào phải được chấm dứt do biết tránh né thì dùng tránh né; những lậu hoặc nào phải được chấm dứt do biết trừ diệt thì dùng trừ diệt và lậu hoặc nào phải được chấm dứt do biết tu tập thì dùng tu tập."
"Này các đệ tử, người tu như thế được gọi là người đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã dứt tham ái, không còn trói buộc, kết thúc kiêu mạn, giã từ khổ đau."
Nghe Đức Phật dạy, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá lời Phật, đem lại lợi lạc cho rất nhiều người.