Phàm là sách đều có lời tựa. Từ lúc Kinh Minh Thánh của ta (Thánh Đế) lưu truyền trên đời đến nay, hoặc có người chú giải, hoặc là có người tụng niệm, nào cần san định hay đính chính. Nhưng thời lòng người trong buổi này khác hẳn thời Tam Đại, khi đọc kinh này nếu không cho rằng lời nói của ta (Thánh Đế) là kiêu mạn thì cũng cho là thô tục. Nếu không cho văn của Ta (Thánh Đế) không hay thì cũng cho là lời nói của ta là hoang đường. Ôi trên đời có những hạng người như thế. Đó chính như đức Khổng Tử nói là khó bàn bạc với người hỗ hương vậy, không biết rằng nguồn gốc của loài người xuất xứ từ Trời, đều có chí thương người giúp đời, có lòng cứu đời, cứu khổ cứu nạn, chẳng những thế mà lại chê bai hủy báng kinh điển. Thần của Ta tuy thông đạt tam giới, bản lĩnh của Ta biến khắp chín châu, cũng không thể làm gì hơn. Cho nên một nửa số người cung kính, và cũng có một nửa số người hoài nghi.
Kinh của Ta lưu truyền trên đời là để cảnh tỉnh người đời chứ không phải là để biện luận với những kẻ không tin. Nhưng trên đời lại có những hạng người cứ muốn so dài luận ngắn với Ta. Nếu lấy Hiếu Đễ Trung Tín Lễ Nghĩa Liêm Sỉ làm gốc, dù không đọc Kinh Minh Thánh, cũng không ngại gì đến kinh. Nếu không làm tròn tiết nghĩa của đạo làm người, dẫu suốt ngày đọc kinh cũng nào có liên hệ gì với lời trong kinh. Vì ý của Kinh Đào Viên không phải cầu ở nơi văn tự và cũng không phải biện luận trong những câu văn trong kinh, mà lý trong kinh đã khái quát trung hiếu tiết nghĩa của đạo làm người. Dù chỉ một lời nửa câu, cũng đủ cảm cách trời đất quỷ thần. Kinh Minh Thánh sở dĩ là kinh chính là vì thế.
Ta không so dài luận ngắn, với những hạng người ngạo mạn không tin này, chẳng phải là xem thường họ mà chính là tập tính của những hạng người này thường hay khua môi múa mép, bàn chuyện viễn vông không thực, cho nên muốn cảm thông với hạng người này rất khó. Và chính vì thế Ta mới trình tâu Thượng Đế, Thượng Đế sắc lệnh Chu Tử san định lại quyển kinh. Người có kiến thức khi đọc đến đây tất nhiên đồng ý với lời nói của Ta. Chu Tử san định kinh này, đều hợp với bản ý của ta.
Xét đến đây bản cũ của Minh Thánh Kinh, câu văn thêm nhiều chữ dư thừa, lời văn điên đảo rườm rà, chính là do những người tự cho là thông minh mà thêm bớt ý kiến riêng tư vào. Khi thì lấy câu văn “không ăn chay trường” của Ta mà lấy đó giết hại sinh linh. Khi thì lấy câu “không tin tà thuyết dị đoan” mà cho rằng Ta không tin giáo lý nhà Phật mà sinh lòng hủy báng Phật giáo. Thậm chí có người cho rằng Ta lấy làm đắc ý với tướng mạo, và khoe lấy công huân rực rỡ của mình, cho nên xem thường quyển kinh này. Cho rằng lời văn trong kinh này không bóng bẩy khiêm nhã bằng Tứ Thư Ngũ Kinh, cũng không thâm diệu bằng Kinh Kim Cang, Kinh Bát Nhã. Đó quả thật là một sai lầm lớn lao!
Kinh là con đường mà mọi người đều phải đi, đường có xa có gần, có đường dễ đi và cũng có đường khó đi. Người có chí hướng đạo, dù đường xa khó đi cũng không quản gian nan vất vả, cũng một lòng hướng thẳng tới đích. Đối với những người kém sức thì có thể từ chỗ gần dễ để hướng dẫn, để người cũng đạt được tới đích. Mục đích của Kinh Minh Thánh chính là thế. Chu Tử căn cứ vào “Tam Thiên Trứ Kinh Lục” khảo chứng kinh văn, truy cứu gốc tích, chính là muốn san chính những chỗ sai lầm và làm sáng tỏ ý nghĩa trong kinh.
Chu Tử đã san định, thì Ta cũng viết tựa để người sau được tụng niệm và thực hành. Tuy người không cầu phúc báo nghiệm chứng, nhưng nếu có lòng thành, đều được ứng nghiệm như lời trong kinh văn. Cho đến thứ tự từng chương trong kinh, là do ta định, lại lấy ba bản chú giải của Cứu Khổ Đại Tiên, Thái Thượng Chân Quân, Thái Bạch Kim Tinh mà thêm vào chương tiết. Về phần tấu nghị của Chu Tử, phần đầu lấy làm lời tựa, phần sau làm kết luận. Sáu chương chia làm ba quyển để bộ Kinh Minh Thánh được hoàn chỉnh. Đó chính là ý của Ta!!! Nay tựa.
Kính lạy đức Quan Thánh Đế Quân
Khí cả lẫy lừng mây bạc
Lòng son sáng suốt vừng hồng
Giúp mối chánh rạng ngời tín nghĩa, oai dậy chín châu
Trọn tiết lành vẹn vẻ trung trinh, linh soi ngàn thuở
Trừ tà, dẹp giặc, đời đời tạc để công cao
Cứu thế, dạy dân, chốn chốn kính vâng lời báu
Vận sánh chín trùng vững đặt
Đức nhuần trăm họ bình an
Kính lạy đức Quan Thánh Đế Quân
Nay đệ tử kính thành cầu nguyện
Xin Cao Minh chứng chiếu tấc lòng.
Hôm nay là ngày ___ tháng ___ năm ___
Con tên là _______ niên canh ___ tuổi
Xin cầu ____________________________.
Đệ tử hứa giữ trọn đời
Một lòng quy y đạo Thánh.
Lần bước vào đường chân chánh
Tấm lòng cầu đặng sáng soi.
Nhập đạo hàng ngày trì tụng
Lời Thánh thuộc lấy làm lòng.
Minh Kinh dốc dạ khẩn cầu
Nẻo huyền ghi vào trong trí.
Ngửa trông lượng Thánh từ bi, đức cả chở che
Thương xót phận hèn ngu muội, ân sâu nhuần gội.
Danh Dũng Tướng cửa Trời lừng lẫy
Oai Mãnh Thần mặt Đất dọc ngang.
Đường đường tướng mạo phi thường, mặt đen, môi đỏ
Lẫm lẫm hình dung cổ quái, râu sắt, răng ngần.
Người thảy kiên vì khí tiết
Lòng thường vẹn giữ tinh trung.
Việc lành dữ dốc sức khảo tra
Cõi trần thế ra công giám sát.
Ngời ngời oai hiển hách
Chốn chốn bước du tuần.
Trừ loài gian, sẵn dạ thương dân
Diệt đảng ác, dày công cứu thế.
Ai trung thần, ai nghĩa sĩ, phò trì cho thẳng bước hiển vinh
Bọn nghịch tử, bọn quai nhi, giận chém quách làm gương trừng trị.
Nối bền giềng thế giáo
Sửa chánh đạo nhân luân.
Hộ chánh pháp, giết sạch yêu ma
Dìu dân chúng, lần theo đạo cả.
Rất linh thay một vì Chân Tể
Rất hiển thay một bậc Thần Quân.
Nam mô Cương Trực Trung Dũng Đại Thiên Tôn
Tước Linh Hầu, ngôi Thái Tử, tài võ văn gồm đủ kinh luân
Lòng hộ quốc, chí khuông vương, gương đức nghĩa sánh tày nhật nguyệt.
Hiếu, trung, vẹn vẻ
Tiết, nghĩa, tròn đầy.
Tây Thục sớm dựng nên công cả
Bắc Ngụy thêm kiêng nể tài cao.
Lòng một mực: đại trung, đại hiếu
Tiếng muôn đời: chí dũng, chí nhân.
Giúp Đất Trời trong cuộc lưng vơi
Phò Thánh Đế ra công bồi đắp.
Triều, quốc, một lòng phò hộ
Hiếu, trung, tấc dạ ân cần.
Nam mô Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa
Đại Thiên Tôn
Trong Quế Điện cầm quyền chủ hạt
Sao Văn Xương bên tả hành cung.
Bảy mươi hai biến hóa pháp thân
Trăm ngàn vạn kiếp căn vận số.
Giúp thiên hạ đề huề con cháu
Dạy nhân gian biết lẽ chánh tà.
Đeo bên mình: kim đạn, trúc cung
Trừ mối hại: Cô Thần, Quả Tú.
Thương trẻ nhỏ, vệ thông quan, đổi đốt tật nguyền
Giúp phụ nữ, hộ sản nạn, khỏi bề trắc trở.
Trí thông minh, càng lớn càng thêm
Bệnh ban trái, càng ngày càng giảm.
Con nuôi khó, vái van thì chẳng khó
Bệnh lâu lành, cầu khẩn được mau lành.
Tiếng lan truyền: Đại Nguyện, Đại Bi
Đời xưng tụng: Đại Từ, Đại Thánh.
Nam mô Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa,
Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế,
Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn
Tước Trời chịu: Tiên Thiên Chúa Tướng
Sắc lệnh phong: Nhất Khí Thần Quân
Đại Linh Quan tra xét khắp trời
Mãnh Liệt Tướng phân minh ba cõi.
Mắt vàng, tóc đỏ, quản trăm xe Thiên Hỏa Lôi Công
Miệng phụng, răng ngần, thống muôn đạo Âm Binh Thần Tướng.
Cưỡi gió, lướt mây, ra oai sấm sét
Xuống mưa, làm nắng, trị bịnh trừ tà.
Vâng lịnh Ngọc Đế, mười hai niên, xét việc lỗi lầm
Thề giúp Tổ Sư, trăm nghìn vạn, nên công đồ sộ.
Đời khen tài: chí dũng, chí cang
Người gội đức: cứu sanh, cứu tử.
Nơi nơi đều mở dạy
Chốn chốn thảy khai đàn.
Lòng son thường tạc chữ trung lương
Hộ pháp luôn trừ loài yêu quái.
Nam mô Vương Thiên Quân Thái Ất
Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn
Oai thần tột bậc, văn võ gồm hai
Tiết cả lẫy lừng, trung trinh vẹn một.
Cơ nghiệp sánh ngôi trời đồ sộ
Ân đức nhuần đạo cả rộng truyền.
Nho, Đạo, Thích, tam giáo thuộc một tay thống chưởng
Thiên, Địa, Nhân, tam tài gồm muôn mối quyền hành.
Trên xem xét Trời ba mươi sáu cõi lớn nhỏ các sao
Dưới giữ gìn Đất bảy mươi hai châu khắp chốn U Minh.
Cầm sổ Sinh, người công đức điểm son thêm tuổi thọ
Giữ bộ Tử, kẻ độc gian nét mực giảm ngày xuân.
Khảo soát khắp: nào Thần, nào Phật
Giám chế cùng: các Thánh, các Tiên.
Chứng minh người thiện quả phước duyên
Phổ độ kẻ tu chân, dưỡng tính.
Ngàn đời tụng: Chí Linh, Chí Thánh
Muôn thuở truyền: Chí Thượng, Chí Tôn
Nam mô Phục Ma Đại Đế, Quan Thánh Đế Quân,
Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ,
Chân Nguyên Hiển Ứng, Chiêu Minh Dực Hán
Thiên Tôn
Vâng lời giáng bút chân kinh
Kính đem quốc ngữ diễn thành một chương.
Triều Đại Hán, tước Quan Thánh Đế
Sắc dụ cho trần thế rõ hay.
Trên đời lắm việc rủi may
May nhờ một điểm lòng hay chân thành.
Chân thành có Thần Minh ủng hộ
Gian hung Trời đoản thọ đừng than.
Đế ra phò tá Hán bang
Chí đồng kết nghĩa Lưu, Trương ba người.
Vườn Đào nguyện, ngàn đời còn tạc
Hội đơn đao, bỉnh chúc lưu danh.
Ngụ Tào đi ở phân minh
Nhốt Ngô vì Hán bỏ mình quản chi.
Ngọc Hoàng cảm Đế vì trung nghĩa
Sắc phong Đế tuyên hóa U Minh.
Thần thông dạo khắp dưới Trời
Nào trung nào nịnh xét soi rõ ràng.
Kìa những kẻ tham tàn, gian xảo
Hẳn ngày sau quả báo rành rành.
Trước răn trong bọn học hành
Sau răn quan hoạn dân binh một lần.
Thứ nhất chớ phụ ân cha mẹ
Ra ngoài đừng hiếp kẻ xóm làng.
Kết giao chớ luận sang hèn
Cũng trong năm đấng đạo hằng dám sai.
Nền phước thiện hằng ngày vun quén
Trời chẳng cho tật bệnh tai truân.
Tào Man độc hiểm quá chừng
Âm Ty đang chịu khổ hình biết bao.
Đức Gia Cát Võ Hầu trung nghĩa
Khắp U Minh đảnh lễ nơi nơi.
Lòng ngay được hưởng phúc Trời
Càng gian xảo lắm càng tai họa thường.
Lỗi đã phạm, Nhật Nguyệt đều rõ
Lòng vô tư, Trời Đất đồng hành.
Trẻ thơ chẳng nói dối quanh
Thần khâm quỷ khiếp, hiển danh rạng ngời.
Kẻ dâm ô, lừa người đoạt của
Kiếp con cháu cờ bạc, lầm than.
Càng tranh, càng bại, càng tàn
Càng khoe tài giỏi, càng xơ xác nghèo.
Mau tỉnh giấc, thu hồi tâm ý
Chớ để mình sa lụy vực sâu.
Ba sinh phải chịu khổ sầu
Nghìn năm phỉ nhổ, ai hầu xót thương?
Ngòi bút ác, thêm tình thắt tội
Lưỡi như gươm diệt cả tông môn
Mau mau xét nghĩ kỹ càng
Đừng ham rong ruổi xuống hang sâu hoài.
Giận mấy đứa đàn bà lang độc
Thói điêu ngoa mạ nhục họ hàng.
Xúi chồng mắng nhiếc mẹ cha
Đế vừa ngó thấy giận càng xiết bao
Sai tượng đất quơ đao nghiêm xử
Ác phụ kia một lưỡi đứt hai.
Mừng cho thảo thuận mấy người
Gạo mang củi gánh sớm hôm phụng thừa.
Hóa ngựa đất gió đưa Tống Chúa
Muôn dặm đường cứu hộ cùng quân.
Muốn cầu trường thọ nuôi con
Phải mau giới sát lại còn phóng sanh.
Loài trâu chó sao đành sát hại
Thịt không ăn thì khỏi ngục tù.
Vâng theo lời Đế dặn dò
Gặp cơn hoạn nạn Đế phù hộ ngay.
Đế ngự đến dẹp bầy yêu quỉ
Tránh gươm đao, sấm dậy, máu trôi.
Một lòng giúp nước chẳng dời
Công dài tước cả ơn Trời vẻ vang.
Trải đời đặng giàu sang thịnh vượng
Sống lâu và khỏi vướng nạn tai.
Ai mà xuôi ngược trá gian
Lường cân tráo đấu gạt đoàn dân ngu.
Trên dương thế chẳng cho tái phục
Dưới A Tỳ hình phạt xiết van.
Bấy giờ hết kịp ăn năn
Khá mau vâng chịu khuyên răn mọi điều.
Hồi tâm lại chớ theo việc ác
Gắng sức ra làm các sự lành.
Mấy lời Đế dạy đành rành
Khuyên lơn trăm họ phụng hành chớ khinh.
Nhà Hán, Hán Thọ Đình Hầu
Đêm thanh ứng mộng cửa thiền đại tăng.
Rằng kinh điển muôn ngàn có thảy
Minh Thánh Kinh chưa thấy ban hành.
Dặn Tăng phải nhớ rành rành
Chép truyền trần thế, chớ khinh làm thường.
Trên có đức Thái Thượng Lão Quân
Cùng trong tam giới chư thần rất linh.
Thần Ngũ Nhạc, thần Lôi Điện
Thần Ngũ Hồ, thần Tứ Hải linh thông
Đôi vầng nhật nguyệt Tây, Đông
Bắc, Nam đẩu tú soi cùng nơi nơi.
Thành Hoàng khắp dưới Trời vâng lệnh
Thổ Địa trong muôn cảnh nghe truyền.
Muôn Thần tấu nghị Thiên đình
Dưới Trời đâu đó ban hành rất mau.
Đại Tiên Cứu Khổ hiển linh
Hiệp ngôi Thái Thượng cùng giềng Kim Tinh.
Kiểm duyệt tất phân minh chú giải
Chẳng ai nên nghịch cải luận bàn.
Kinh này bốn biển rộng ban
Giúp nên nước thịnh, dân an lâu dài.
Kinh Minh Thánh tỏ lời răn dạy
Khuyên chúng sinh cả thảy lắng nghe.
Cung Tử Vi thần Châu Y
Đế gồm văn võ hai vì đại tinh.
Trương Tiên chưa an dinh chủ hạt
Sắc theo Đế kiểm soát trần gian.
Hộ phò thiếu nữ thiếu nam
Bọn hư khí huyết bặt điềm quế lan.
Tống sanh với sản nạn cấp cứu
Mị yêu cùng chẩn, đậu, thương hàn.
Thắp hương tụng niệm cầu an
Chuyển họa thành phước rõ ràng hiển linh.
Ai thờ Đế lên hình vẽ tượng
Họa Trương Tiên cung đạn hầu gần.
Trong đời Chiến Quốc phân vân
Trời sai Đế xuống cứu dân khỏi nàn.
Ngọc Hoàng đặt tên sang Ngũ Tử
Trải năm đời lịch sử trung lương.
Lâm Đồng một hội tranh cường
Đế tài Minh Phủ phi thường ai đang.
Cứu chư hầu khỏi mang nạn cả
Ép gian Tần rời rã lòng tham.
Sở vương vô đạo, hoang dâm
Chiêu Quan vượt nạn, tóc trầm bạc phơ.
Quá quan khỏi nạn này một lúc
Đại cừu kia báo phục vừa xong.
Mấy phen Ngô Việt tranh hùng
Đao binh rối loạn, chẳng không ngày nào.
Lòng thành Đế trời cao soi thấy
Gương hiếu trung trải bấy nhiêu đời.
Ngọc Hoàng hạ sắc sai Ngài
Tiền Đường cai quản đêm ngày hộ dân.
Tới thời Hán gian thần phe đảng
Đổi họ tên giáng hạ trần trung.
Xuân Thu chí cả ai bằng
Giải Lương quê quán vẫn từng danh vang.
Nhà đạo đức họ Quan giòng giống
Sinh gặp thời Hán thống phân mang.
Nhỏ du lịch, lớn làm quan
Anh hùng bốn biển giang san một nhà.
Lo chi thiếu trảo nha huynh đệ
Vào Vườn Đào bỗng thấy hai người.
Hình dung kỳ dị khác vời
Non sông đâu cũng là nơi anh hùng.
Oai mãnh liệt lạ lùng Trương tướng
Đường đường thay khí tượng Lưu hoàng.
Nay mừng gặp chúa phi thường
Nước Thiên Hà rửa đảng gian có ngày.
Rồng cọp hội, gió mây đã sẵn
Giết trâu đen ngựa trắng lễ phô.
Nguyện cùng Cao Thẳm biết cho
Anh em kết nghĩa khuông phò Hán bang.
Huỳnh Cân phá, Đổng tàn, Bố giết
Không dinh lầm chước quyệt Tào Man.
Từ Châu gặp lúc chia tan
Cánh hồng man mác, xe loan dắt dìu.
Ngọn đuốc thiêu mưu sâu Văn Viễn
Dòm vách coi nghĩa vẹn vườn Đào.
Thề phò Hán, chẳng hàng Tào
Tôi trung thờ chúa lòng nào đổi hai.
Ấn Hán Thọ quyết nài chữ Hán
Tiệc hoa viên thêm chén tình gian.
Lấy đầu hai tướng Văn, Nhan
Ở đền ơn mới, về toàn nghĩa xưa.
Kế về Bắc bây giờ mới quyết
Tin Lưu Hoàng đã biết rõ nơi.
Vàng niêm rồi, ấn treo rồi
Ba phen từ Tháo, mấy hồi nhớ Lưu.
Hộ xe chị qua cầu vượt ải
Tìm dấu anh xuống bãi lên đèo.
Dặm ngàn vó ngựa buông theo
Lòng trung khí nghĩa rạng nêu mặt trời.
Năm ải dẹp, đòi nơi khói bụi
Sáu tướng vươn một mũi đao rồng.
Bắc Nam ly hiệp anh hùng
Cổ Thành ai ngỡ trùng phùng anh em.
Trí quyết thắng vẫn hiềm mình thiếu
Tài kinh luân phải triệu người ra.
Mao Lư ba dội dẫy xa
Rồng nằm chưa dậy, bóng đà gần trưa.
"Điềm trị loạn ai chưa sớm đoán
Bình sanh ta trù toán không sai.
Giấc xuân lều cỏ vừa phai
Trì trì bóng nhật, hiên ngoài lân la."
Đức Gia Cát chưa ra một bước
Số tam phân định trước đành rành.
Võ Hầu nguyên Quảng Huệ Tinh
Hán tiền Nghiêm Tử, Tống đình Văn Công.
Luân hồi đã ba vòng sư tướng
Hết xuống trần phối hưởng miếu giao.
Vạc Lưu chia bởi Ngô, Tào
Giang sơn dời đổi biết bao anh hùng.
Lưu Hoàng ngự trong Thanh Hư Phủ
Thánh Đế nay trấn thủ Thiên môn.
Tứ Xuyên thổ cốc nhuần ân
Hằng Hầu trung nghĩa làm Thần đến nay.
Sau đời Tống đầu thai Võ Mục
Trước đời Đường tử thủ Thư Dương.
Ba triều trung liệt tiếng vang
Ngôi Thần hộ quốc Ngọc Hoàng sắc phong.
Binh qua nhỏ vẫn không sai tướng
Nguy nàn to sẽ xuống cứu trần.
Cho hay chính trực làm Thần
Thành Hoàng tướng tướng xoay vần xưa nay.
Cảm Trời Đất bởi dày trung hiếu
Hiển Phật linh há thiếu trì chay.
Cần chi ăn mặc phí xài
Tùy gia phong kiệm chớ nài chớ chê.
Cầm thú cũng thuộc về sinh mạng
Không việc chi nào đáng sát sanh.
Cũng đều mạng sống như mình
Trương cung, bủa lưới, tầm quanh sao đành.
Cây cỏ chớ phá nhành bông trái
Trải đông tàn, xuân lại phát vinh.
Muôn loài trời đất hóa sanh
Theo thời sinh trưởng cũng y như người.
Ai mà biết thương loài sinh vật
Phước nhóm về họa ắt lánh xa.
Chớ rằng lành nhỏ bỏ qua
Chớ rằng dữ nhỏ làm mà hại chi.
Việc ngay vạy, lưới Trời khôn tránh
Định dinh hư, Thần Thánh đã lường.
Làm người gốc tại cang thường
Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nhường, Sỉ, Liêm.
Vâng lời Đế cứ làm việc phải
Có mây lành che đỡ cho mình.
Cửa Trời Đế lãnh quyền hành
Muôn Thần tấu đối Thiên đình trước hay.
Người đức thiện thêm bề quan tước
Kẻ độc gian hại ngược về sau.
Cho hay thiện ác đáo đầu
Làm lành gặp phước mau lâu tùy thời.
Chớ tưởng Trời không tai không mắt
Việc tối tăm nhỏ nhặt đều hay.
Thờ Thần kính trọng hàng ngày
Chẳng nên thất lễ cợt lời dễ khinh.
Đế vốn học Xuân Thu, Luận, Mạnh
Sớm lão thông kinh Thánh, truyện Hiền.
Trước là hiếu đễ vẹn toàn
Giữ mình trị nước bổn nguyên suy lần.
Xảy gặp lúc Huỳnh Cân rối loạn
Họa binh qua tứ hướng hại dân.
Mười năm siêu giáp liền thân
Chẳng an đêm ngủ, chưa từng bữa no.
Đánh dẹp lũ tặc đồ dong ruổi
Non sông vừa một buổi chia ba.
Râu mày điểm điểm tuyết pha
Đao mòn, ngựa mỏi, sức đà kém suy.
Trải gan ruột lo vì việc nước
Nguyện sắc son sau trước một lòng.
Huân lao Kim ấn hầu phong
Làu làu tiết nghĩa gan trung giữ trần.
Nay những lũ loạn thần, tặc tử
Lòng ngược xuôi độc dữ xiết chi.
Gian tham sàm nịnh nhiều bề
Lập ra đảng nọ đảng kia tranh cường.
Nào nghĩ đến cang thường luân lý
Nào kể chi hiếu đễ ngay tin.
Nghinh ngang mỗi việc hoành hành
Nhiều điều tự đắc, nhiều lần cầu may.
Ngôi vua tiếm, tôi ngay bị hại
Của cải tham, sắc gái càng mê.
Đem lòng độc dữ gớm ghê
Biết bao tính mạng chịu bề oan khiên.
Chỉ tham việc nhận tiền khoái lạc
Nào kiên chi tội ác về sau.
Thánh hiền xưa lắm công lao
Chớ đem lòng trá cưỡng cầu hiển vinh.
Kìa mây gấm thủy tinh rực rỡ
Nọ trăng trong hoa nở tốt tươi.
Mây tan ngọc nát rã rời
Hoa tàn nguyệt khuyết vậy thời như không.
Nếu chẳng biết dằn lòng giữ ý
Như gươm linh bị gãy có khi.
Làm ngang ở ngược ra chi
Gây nên oan nghiệt bởi vì dễ ngươi.
Vay cũng chẳng mấy hồi phải trả
Lâu mau thì thiên hạ đều hay.
Lẽ thường báo ứng đâu sai
Đố ai ráp cánh mà bay khỏi trời.
Lúc vị ngộ chờ thời mới phải
Vui nghiệp thường chớ trái mạng trời.
Thử xem trăm việc trong đời
Làm mà dối trá vật thời khó tinh.
Cây chẳng dưỡng lá nhành không tốt
Lúa dối trồng bông hột nào mong.
Văn thần trải mấy thơ công
Võ thần trăm trận mới hòng hiển vinh.
Đế vốn đấng trung trinh nhật nguyệt
Trải muôn đời đại tiết càn khôn.
Trời chẳng mòn, Đất chẳng mòn
Còn Trời còn Đất hãy còn Thánh linh.
Vâng Thượng Đế đặt sai ngự sắc
Xét phàm gian thiện ác mỗi người.
Tinh trung nhật nguyệt sáng soi
Đất Trời nghĩa khí trong ngoài tiếng vang.
Khắp bốn biển kiền thành đảnh lễ
Tặng Đế là Trung Nghĩa Độc Tôn.
Tượng, hình rạng giữa càn khôn
Anh hùng như Đế dễ còn mấy ai.
Mày tầm vẽ phân minh bát tự
Mắt phụng thêm rực rỡ song tình.
Râu rồng năm khóm rành rành
Tráng hùm chói rạng Thiên đình oai nghiêm.
Thao lược đã sánh gồm Tôn Tẩn
Cơ mưu càng so lấn Phạm Tăng.
Ngựa Xích Thố ấy Hỏa Long
Đao Thanh Long cũng là Rồng nước sanh.
Lòng son thắm, mặt càng đỏ cháy
Khí nghĩa xung, râu lại thêm dài.
Anh hùng chính khí tốt vời
Đuốc tàn phá vách cho người tiết cao.
Kìa tước lộc của Tào chẳng sá
Vàng niêm phong, ấn đã treo rồi.
Đao rồng trăng rọi càng tươi
Hỡi anh em cũ bao giờ gặp nhau.
Mày tầm chạnh bấy lâu châu ủ
Non sông buồn lắm nỗi đổi dời.
Công danh trùm cả muôn đời
Tước quyền nguyên soái cửa Trời gia phong.
Cúi đầu trước sân rồng phụng chỉ
Thể lòng trên Ngọc Đế ban hành.
Hỏa, Lôi, Phong, Vũ chư linh
Giúp người sao tụng thiệt tình kính tin.
Vâng lệnh dạy tu nhân tích đức
Trải ngàn năm đeo ngọc, phủ vàng.
Vẹn toàn việc tốt dường gương
Nguy nga một cửa, vẻ vang ba đời.
Tuân pháp chỉ mấy lời phán rõ
Nhóm thần tiên các bộ thi hành.
Tôi trung lương ra tài giúp nước
Con thảo hiền giữ trước như sau.
Thanh liêm vàng chẳng tham cầu
Tiết ngay vẹn vẻ sợ đâu nguy nàn.
Lời Minh Thánh ngọc vàng thắm thiết
Chẳng nên khi là việc tầm thường.
Trung, Hiếu, Liêm, Tiết bốn chương
Có lời Tam Thánh tỏ tường giải phân.
TRUNG CHƯƠNG
Trên minh quân ân cần lễ hậu
Dưới bầy tôi thờ chúa hết lòng.
Cơm vua lộc nước ngày dùng
Phải lo bổn phận lập công đền bồi.
Tôi trung nghĩa khuôn phò xã tắc
Tướng công bình dìu dắt ba quân.
Chớ che việc lỗi văn thần
Chớ đem công trạng võ thần lấp đi.
Điện Văn Hoa chép ghi rành rỗi
Cung Kiến Chương tấu đối rõ ràng.
Lòng son vầng nhật in ngang
Ngôi cao hẳn đặng lên hàng Tam Công.
Kìa Tần Cối bất trung quá đỗi
Hóa loài muông đền tội nhân gian.
Nhạc vương Võ Mục trung cang
Dự trong bốn soái Thiên đàng sắc phong.
HIẾU CHƯƠNG
Làm con trước thảo cùng cha mẹ
Thảo thuận là hai lẽ liền nhau.
Khiến vui chớ để buồn rầu
No cơm, áo ấm, ngõ hầu đơn sai.
Lúc đau ốm, thuốc, thầy kiểm điểm
Mình sắc rồi, miệng nếm, tay dâng.
Hôm mai chầu chực bâng khuâng
Quên ăn, quên mặc, đỡ nâng đêm ngày.
Mày hiếu thuận, con mày sẽ hiếu
Xem giọt mưa tiếp nhểu trước hiên.
Đại Thuấn hiếu, ngôi vua truyền
Hai mươi bốn thảo đầu giềng hiếu chương.
Cha mẹ sống chẳng thương chẳng dưỡng
Để chết rồi tế hưởng linh tiền.
Quân bất hiếu bị tai khiên
Hùm tha, rắn mổ, tật nguyền gớm thay.
Phép nước bị tù đày, giam vạ
Lưới Trời thêm thủy, hỏa, lôi oanh.
Chết treo, chết chém, hủy thân
Những đồ bất hiếu, thánh thần phải răn.
Hãy gấp gấp ăn năn chừa cải
Nếu dần dà theo mãi càng thâm.
Người đời ai khỏi lỗi lầm
Lỗi mà biết cải mới là người khôn.
Người khôn giữ thần hôn trọn đạo
Mấy ngàn năm gương thảo vẫn còn.
Xử sao cho xứng phận con
Rồi ra trăm nết vuông tròn từ đây.
LIÊM CHƯƠNG
Liêm khiết khiến thường ngày kính sợ
Xét xem tường, tránh sự hiềm nghi.
Thánh hiền an mạng là chi
Thung dung học lễ, học thi mới mầu.
Di, Tề ẩn, lúa Châu chẳng sá
Thủ Dương còn mảnh đá lưu danh.
Giá cao sánh với ngọc lành
Chí dường sắt đá, kiên trinh mọi bề.
Giữ lộc mình chớ hề tham quấy
Xâm của người mang lấy họa tai.
Người liêm chê của ta lai
Chí cao chẳng uống nước khe Đạo Tuyền.
Từ bổng, tiếng Nguyên Hiến liêm cẩn
Sợ vàng, khen Dương Chấn thanh cao.
Triển Hoạch nữ sắc không xiêu
Lỗ Liên trọng nghĩa vàng cao chẳng màng
Thịt ngỗng quý đâu hơn trái lý
Cải, rau ngon, dưa tế nào bằng.
Lễ nghi nhờ của lộc bang
Cả nhà chi phí kiệm cần cũng xong.
Của thất tiết chất chồng trăm lớp
Tiền muội tâm giật sắp đầy gương.
Oan hình ngó xuống thảm thương
Ngước lên còn có Thương Thiên trên này.
Dung tôi tớ như bầy lang hổ
Mưu lấn giành điền thổ quân dân.
Đến khi vận đốn thời truân
Nhà tan mả nát khôn phân lẽ nào.
Của Kim Cốc lúc vào đã trái
Đám phù vân thoảng lại như không.
Gái dâm trai đạo đến cùng
Trả sao cho xứng mấy đồng tiền oan.
TIẾT CHƯƠNG
Tiết người ta sánh ngang trời đất
So loài tre, vầng nguyệt cũng bằng.
Sáng soi cao thẳm khôn ngần
Mười phần tròn trịa, mười phần sạch trong.
Mình ngay thẳng, nào cong, nào khuất
Trải tuyết sương, thường tốt, thường tươi.
Một màu xanh biếc đất trời
Trăng thanh, gió mát, thảnh thơi mọi bề.
Châu mấy giọt dầm dề rừng trúc
Tiết ngàn thu gởi khúc Tương Linh.
Khiến người qua bến Động Đình
Càng thương, càng mến Nga Anh bồi hồi.
Gậy Tô Võ mười hai lóng chẵn
Sứ Hung Nô mười chín năm tròn.
Lý Lăng tiếng xấu khôn mòn
Tô Công tiết liệt tiếng còn đến nay.
Ban Trọng Thăng cõi Tây phụng sứ
Băm sáu phương còn nhớ ân quang.
Mấy người tiết nghĩa vẹn toàn
Thánh Thần soi đến hỷ hoan dường nào.
Hoặc dự chức Thiên Tào quyền chưởng
Hoặc bổ làm các đấng Thành Hoàng.
Công hầu nối nghiệp vẻ vang
Ngàn năm hưởng phước giàu sang lâu dài.
Kìa loạn tặc nào ai chẳng ghét
Hại trung lương thảm thiết quá chừng.
Thấy nhau mặt giả vui mừng
Mà lòng với miệng vẫn từng khác nhau.
Lòng sục sục, tám mâu chổi ngược
Ý hầm hầm, ba thước đao châm.
Lưỡi như gươm bén phải lầm
Giết người chẳng thấy hơi tăm chút nào.
Hễ sàm nịnh, hùng hào, gian xảo
Thì thân gia điêu háo, tuyệt dòng.
Đế xưa cũng chẳng chay ròng
Dị đoan tà thuyết Đế cùng chẳng tin.
Địa ngục vẫn chư thần quản hạt
Tam bảo là Nhật, Nguyệt, Tinh thần.
Đỡ che kiếp nạn nhân dân
Dây oan tháo mở lần lần sạch trơn.
Bốn chương ấy tỏ tường thâm thiết
Trung, Hiếu và Liêm, Tiết rành rành.
Còn hai mươi bốn vị tinh
Sau này thứ lớp phân minh kể liền.
Thần Mãnh Dũng dinh thiên pháp lực
Chống bầu trời đỡ đất mạnh thay.
Xây vầng nhật nguyệt đông tây
Ấy thần Phổ Chiếu đêm ngày sáng soi.
Thần Minh Lãng an bài tinh tú
Trong đêm thanh chiếu tỏ đều Trời.
Hàng ngày cởi ngút nương mây
Kìa sao Phi Độ vàng lui du tuần.
Thần Uy Liệt lẫy lừng khôn xiết
Chớp bủa giăng, sấm sét tưng bừng.
Kêu mưa hú gió nữa lừng
Nhiễu Nhương oai dậy đùng đùng bốn phương.
Sao Phổ Phí rưới sương sa tuyết
Làm đượm nhuần thảo mộc sơn hà.
Thưởng lành phạt dữ gần xa
Có thần Chánh Trực xét tra công bằng.
Thần Trung Nghĩa hành hình đảng ác
Phò hộ người tích đức tu nhân.
Dạy kẻ ngu, dỗ kẻ ngoan
Có thần Cảm Ứng liệu toan trong đời.
Thần Từ Tường cho người trường thọ
Đuổi ôn hoàng dịch lệ cứu dân.
Cát bay đá chạy rần rần
Ấy thần Tiệt Lộ đón ngăn bốn bề.
Thần Ngũ Hồ chưởng về phong cảnh
Vâng lệnh Trời đổi biển dời sông.
Đạp xô lở núi sập non
Sức thần Thiết Giáp ai còn dám đang.
Sao Kết Hóa làm tan tuyết giá
Hoặc làm đông đặc cả sông ngòi.
Làm cho trổ lá nảy chồi
Vì sao Phát Dục dưỡng loài cỏ cây.
Sao Kiều Mị đơm đầy bông trái
Cây vẻ vang người lại hưởng nhở.
Lúa tươi nếp tốt sởn sơ
Nhờ sao Ích Huệ giúp người đủ no.
Sao Bổ Tróc hộ phò các loại
Là cầm bay thú chạy trong trời.
Cá tôm cua trạch đua bơi
Nhờ sao Dũng Dược hóa đầy biển sông.
Sao Triền Nhiễu rải cùng thế giới
Loài côn trùng bay nhảy tơi bời.
Văn chương chữ nghĩa vẽ vời
Sao Văn Xương ấy dạy người thông minh.
Sao Võ Khúc bày binh bố trận
Muôn nước dùng chống vững cõi bờ.
Chư công bá nghệ đều nhờ
Vị thần Xảo Tác dạy đời đua chen.
Chúng Tinh nghe lệnh truyền khắp cả
Về bổn dinh biến hóa phát sanh.
Cúi đầu lạy trước Đế Quân
Công dày đức cả cao xanh mấy tầng.
Tướng trực nguyệt, tướng trực niên
Thần chuyên trị nhật, thần chuyên trị thời.
Hắc Sát Soái đêm sai săn sóc
Hạo Khiết Binh ngày trót xem coi.
Qua qua lại lại xét soi
Mỗi đều tinh tế chẳng sai phân hào.
Thần gia trạch hội vào chứng kiến
Đức Táo quân cứ chuyện trực trần.
Ai mà tụng niệm ân cần
Hoặc trai hoặc gái tấu văn hay liền.
Kinh này phụng trong nhà kính lễ
Yêu quỷ kia hóa bụi xa bay.
Tàu thuyền thờ tụng kinh này
Gặp cơn sóng gió ngày rày bình an.
Người hành khách thường mang kinh ấy
Trải dặm trường mạnh giỏi không lo.
Xem kinh mấy kẻ học trò
Thang mây nhẹ bước, sớm cho gặp thời.
Đàn bà biết phụng thờ kinh ấy
Sanh năm trai, hai gái, nên người.
Nếu vì kẻ thác niệm thường
Vong hồn lên chốn thiên đường rất mau.
Làm con biết gìn câu hiếu kính
Phụng kinh này, thành tín trước sau.
Vì cha, vì mẹ khẩn cầu
Thung huyên ắt đặng sống lâu, phước dày.
Vọng bàn vái, thắp hương, tụng niệm
Phước lành kia ứng hiện tới liền.
Ai mà sao tống, ấn truyền
Ắt là bệnh hoạn, tật nguyền cũng qua.
Năm ba biến thường ngày trì tụng
Hoặc trăm ngàn tiếng cũng thêm hay.
Chư thần nghe đẹp vui thay
Lại trong nhà cửa từ rày quang minh.
Hoặc ban những phước duyên thọ khảo
Hoặc cho thêm con thảo cháu hiền.
Việc dữ cũng chóng hóa lành
Phúc, lộc, thọ đến, tràn đầy an nhiên.
Đức Thánh Đế sắc rồng phán thị
Vương Thiên Quân vâng chỉ cửa Trời.
Đế thường gắn bó mấy lời
Trên trời mặt nhật, trong người trái tim.
Mặt trời chiếu đâu xem cũng sáng
Lòng người tua tỏ rạng như vầy.
Trong đời muôn việc rủi may
Cội nguồn cũng ở lòng này mà ra.
Năm thường ấy Nho gia làm chủ
Tam Bảo kia Thích đạo làm đầu.
Quản bao giải lẽ cao sâu
Đạo nào cũng phải suy cầu tâm nguyên.
Nhân chẳng chi lớn hơn Trung, Hiếu
Nghĩa thì không đặng thiếu Tiết, Liêm.
Năm thường thử kể ra xem
Trước làm Nhân Nghĩa đã kiêm cả rồi.
Đức Thánh nhân sánh Trời giúp hóa
Thành Phật, Tiên, Đạo cả nhờ đây.
Mở Trời dựng Đất đến nay
Nhóm về một lẽ, rõ bày chân nguyên.
Trải đế vương, Thánh, Hiền, Tiên, Phật
Kinh điển truyền ghi tạc muôn dòng.
Đạo dẫu cách, tâm vẫn đồng
Nói trong lẽ ấy, làm trong việc này.
Đế vốn trong Tử Vi Cung tọa
Bẩm tinh anh sao Hỏa giáng sanh.
Tánh oai liệt, Tượng Ly Minh
Văn Xương, Võ Khúc quyền hành hai cung.
Văn chủ Nhân, Hiếu, Trung làm gốc
Võ chủ Nghĩa, Liêm, Tiết làm đầu.
Nghĩa, Nhân nếu chẳng suy cầu
Thánh, Hiền, Tiên, Phật khó hầu sánh vai.
Không đêm ví ngày hoài đâu có
Có dương không âm nọ được sao.
Siêu phàm nhập thánh huân lao
Nghĩa, Nhân trọn đủ mới hầu thành công.
Trải Chiến Quốc mấy vòng mưa gió
Đến lúc sau Hán Tổ suy vi.
Đế ra hết sức phò trì
Cứu dân giúp nước trăm bề gian truân.
Niệm thiện quả sửa lòng thiên hạ
Kinh Đào Viên tạc đá ghi vàng.
Hiện thân thuyết pháp rõ ràng
Càng tha thiết lắm lại càng đinh ninh.
Muốn hoằng hóa chúng sanh tốt trọn
Mà trước người phải chọn điều hay.
Người đời sao lạ lùng thay
Lãng sao tánh thiệt, lòng ngay đâu rồi.
Thấy Kinh nói mấy lời dị nghị
Chẳng rằng kiêu thì nghĩ rằng thường.
Hay là muốn việc lạ dường
Ngũ Kinh đặt lại để thường đọc chăng.
Bọn ngu tục nói năng nào quản
Đám văn nho nhạo báng mới kỳ.
Đế nói chú giải Châu Hy
Ôn nhuần nghĩa lý bấy nay đặng tường.
Nếu ai dám thị thường quen thói
Nhạo Thánh Kinh soi mói nhiều điều.
Nhẹ thì ôn hỏa bấu theo
Nặng thì Châu tướng chém đầu chớ than.
Minh Thánh Kinh giải bàn thêm rõ
Gốc bởi đâu mà có Kinh này.
Ngọc Tuyền sư gặp duyên may
Đêm thanh ứng mộng thuật bày về sau.
Hai chữ Hán đầu câu phải hiểu
Chữ Hán trước là hiệu danh đời
In ghi sắt đá không dời
Chính triều Đại Hán là đời Đế sanh.
Còn chữ Hán Thọ Đình nói đó
Là chỉ tên rõ chỗ Hầu phong.
Non mài sông giũa muôn đông
Còn trời còn đất tiếng Ông còn dài.
Trước dặn bảo những người tụng niệm
Tai tiêu mà phước nhóm mọi đường.
Thánh Kinh linh nghiệm tỏ tường
Khuyên người phúng tụng thường thường chớ khinh.
Đoạn trong nói trung trinh nghĩa khí
Sánh trời trăng lại với Cao Dầy.
Chánh trong Mạnh Tử sách này
Nói rằng "Chánh khí lấp đầy lưỡng giang"
Mặt vẫn đỏ, lòng càng đỏ chói
Râu vẫn dài, nghĩa lại dài ghê.
Anh hùng tài mạo càng sê
Xem trong kinh điển phán phê rõ ràng.
Đại Học rằng "thể bàn tâm quảng"
Nghĩa là người tướng trạng phương phi.
Lại đem sách Mạnh mà suy
Mặt tươi trăng rạng nghĩa thì chẳng sai.
Nói tới câu đầu thai chuyển kiếp
Nhà Nho rằng là chuyện cao xa.
Việc này Thích, Đạo hai nhà
Luận bàn chí lý há là không tuân.
Thử xem chuyện xoay vần thuở trước
Những thay hồn, đổi xác biết bao.
Trải qua mưa gió mấy trào
Sanh sanh hóa hóa biết bao anh hùng.
Tại Chiến Quốc, tại trong đời Hán
Tại Tống, Đường chỉ phán mấy câu.
Thiệt là chẳng phải dối đâu
Sử xanh còn đó suy cầu thử coi.
Chương Trung nói đạo tôi rành rẽ
Văn võ quan đều phải tuân theo.
Chính là những bậc anh hào
Ra đời về trước Y, Cao, Long, Quì.
Chương Hiếu phải xét suy cho kỹ
Câu nào thì chuyện nấy không sai.
Chẳng rồi áo tối, cơm mai
Thăm nom, cơm, thuốc, ai tày Văn Vương.
Xem giọt mưa chảy thường theo giọt
Con thảo hiền nối gót theo mình.
Kìa vua Đại Thuấn hiếu thành
Danh thơm tạc để Sử đình muôn thu.
Hăm bốn hiếu người đâu truyện đó
Trải xưa nay rạng tỏ đôi vầng.
Trời Đất chứng, Quỷ Thần mừng
Rõ ràng bằng cớ biết chừng nào hay.
Chữ Liêm vẫn tỏ bày Châu Lễ
Nầy thử xem Lục Kế thanh tra.
Bởi trong chữ Nghĩa sinh ra
Của gì phi lễ lấy mà làm chi.
Đế vì kẻ ngu si răn dỗ
Một hai lời thí dụ đã tường.
Suối Liêm, nước Đạo đôi đường
Tiếng đời tốt, xấu, rõ ràng chăng nhe.
Tiết ví tre vì tre có lóng
Tiết ví trăng vì bóng soi thường
Xưa nay Tiết lớn dình dàng
Trăng trong, tre tốt, Nghĩa càng vẹn phân.
Đế sắc lệnh chư thần tra kiểm
Phò hộ người tu niệm theo Kinh.
Đế đà trải hết lòng lành
Từ bi độ chúng đinh ninh mấy điều.
Ai chê Đế rằng kiêu rằng thiển
Đế vui lòng chẳng biến chẳng dời.
Muốn cho thảy thảy mọi người
Theo kiêu thiển ấy ở đời cũng hay.
Tánh tình cứ hàng ngày tu luyện
Ắc tự nhiên quả thiện vẹn toàn.
Đặng về hưởng phước Thiên đàng.
Sánh vai thần thánh, Đế càng hỷ hoan.
Đế hạ sắc Linh Quan truyền thị
Cho thập phương ai nấy châu tri.
Hết lòng phát nguyện quy y
Tâm tâm niệm niệm tụng niệm kính tin.
Tấm lòng phải giữ gìn thường sáng
Sánh mặt trời tỏ rạng trên không.
Tín thành hai chữ rèn lòng
Đêm ngày tụng niệm chớ hòng đơn sai.
Đế bản Thiên Khu đệ lục tinh
Lâm phàm dục sử vạn phương ninh.
Hình dung tuy khứ thần du tại
Lưu đắc tinh anh chấn bách linh.
Vì sao số sáu hiệp ngôi Trời
Đế xuống phàm trần hộ khắp nơi.
Tuy khuất hình dung thần hiển ứng
Oai phong lẫm liệt trải muôn đời.
Đây là bốn câu thơ ca ngợi phẩm hàm cao quý và uy linh của Quan Thánh Đế Quân, khẳng định nguồn gốc thần thánh và sự bất tử về tinh thần của Ngài. Thiên Khu là tên của ngôi sao đứng đầu trong chòm sao Bắc Đẩu (thường gọi là sao Tham Lang). Quan Thánh Đế vốn là chân thân của ngôi sao thứ sáu trong chòm sao Bắc Đẩu giáng trần để cứu thế, dẹp loạn, mang lại sự bình yên và công lý cho nhân dân. Dù thân xác Ngài đã mất đi, nhưng khí tiết anh hùng và uy linh của Ngài vẫn còn mãi, tỏa sáng, làm khiếp sợ mọi thế lực gian tà và làm gương cho muôn đời sau.
Nam mô Cái Thiên Cổ Phật
Chiêu Minh Dực Hán Đại Thiên Tôn
Từ bi cứu thế, trung nghĩa khuông quân
Diễn giáo thuyết pháp độ quần sanh.
Chánh khí mãn Càn Khôn
Vô lượng độ nhân, thọ trì lợi ích hanh.
Nam mô Đại Thánh Phục Ma
Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Thiên Tôn