KINH NGƯỜI ÁO TRẮNG

Tôi nghe như vầy. Một thời đức Phật ở chùa Kỳ Viên do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng. Vào sáng hôm nọ, ông Cấp Cô Độc cùng với năm trăm cư sĩ thuần thành viếng thăm, đảnh lễ ngài Xá Lợi Phất, rồi ngồi một bên. Ngài Xá Lợi Phất dùng nhiều phương tiện, thuyết pháp khai tâm cho các cư sĩ, mang lại niềm vui và sự khát ngưỡng đối với Tam Bảo và sự thực tập con đường chuyển hóa. Ngài Xá Lợi Phất hướng dẫn tất cả đến viếng đức Phật, đầu thành năm vóc, đảnh lễ chân Người, rồi ngồi một bên, hít thở chánh niệm. Thế Tôn ân cần dạy bảo mọi người những điều cốt lõi mà người tại gia cần siêng thực hành, để được an vui.

"Này các đệ tử, nếu người áo trắng sống đời thanh cao, giữ gìn trọn vẹn năm điều đạo đức, tu tập đầy đủ bốn tâm cao thượng, có thể đạt được một cách dễ dàng phước và hạnh phúc ở trong hiện tại và biết chắc rằng không còn rơi rớt trong các nẻo ác: địa ngục, ngạ quỷ và loài động vật trong đời tương lai. Đồng thời, người ấy đã được chắc chắn dự vào dòng thánh ở quả thứ nhất."

"Đạo đức thứ nhất: Đệ tử áo trắng quyết tâm xa lìa mọi sự giết hại, buông bỏ vũ khí, chấm dứt bạo động, tu tập từ bi, thương xót mọi loài, bảo vệ thiên nhiên, biết sống hổ thẹn, lương tâm trong sáng. Nhờ thực tập này, đệ tử áo trắng nhổ tận gốc rễ tâm niệm giết hại, sống trong hạnh phúc và sự an vui."

"Đạo đức thứ hai: Đệ tử áo trắng quyết tâm xa lìa mọi sự trộm cắp, tôn trọng sở hữu hợp pháp của người, những gì không cho thì không được lấy; vui thích bố thí, cứu người giúp đời vượt qua nghèo khổ; lúc bố thí thì không cầu đền đáp. Nhờ thực tập này, đệ tử áo trắng không bị tâm lý tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt che lấp, sống trong liêm khiết, giàu lòng vị tha."

"Đạo đức thứ ba: Đệ tử áo trắng quyết tâm xa lìa tà hạnh ngoại tình, sống hạnh chung thủy, bảo vệ hạnh phúc tất cả mọi người. Nhờ thực tập này, đệ tử áo trắng không bị tâm lý hưởng thụ thấp kém làm mất hạnh phúc."

"Đạo đức thứ tư: Đệ tử áo trắng quyết tâm xa lìa những lời dối gạt, khoác lác cuồng ngôn, tuyên bố sự thật, không nói chia rẽ, nói lời xây dựng, không nói thô tục, nói lời lịch sự, không nói tán gẫu, nói lời lợi lạc. Nhờ thực tập này, đệ tử áo trắng an trú chánh niệm, đáng được tin cậy, uy tín tăng trưởng."

"Đạo đức thứ năm: Đệ tử áo trắng quyết tâm xa lìa rượu và ma túy, các chất gây say; chấm dứt thói quen hưởng thụ độc tố; không tham gia vào sản xuất, buôn bán những độc tố đó. Nhờ thực tập này, đệ tử áo trắng giữ gìn sức khỏe và sống hạnh phúc với người thân thương."

"Này các đệ tử, làm người áo trắng, sống đời tại gia, hãy cố gắng giữ năm điều đạo đức vừa được tuyên thuyết, để sống hạnh phúc với nhiều phước báo trong đời hiện tại và đời tương lai."

"Này các đệ tử, hãy lắng lòng nghe Như Lai giảng dạy phương pháp đạt được bốn tâm cao thượng trong hiện tại này, một cách dễ dàng với nhiều giá trị."

"Tâm cao thượng một: Đệ tử áo trắng quán niệm Như Lai là bậc Giác ngộ không còn dính mắc, bậc Minh Hạnh Túc, là bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, là Thiên Nhân Sư, là Phật, Thế Tôn. Nhờ quán niệm này, vọng tâm, dục niệm thảy đều tiêu diệt; không còn yếu tố bất thiện, uế nhiễm, sầu khổ, lo âu ảnh hưởng, chi phối. Nhờ quán tưởng Phật, tâm được lắng trong, đạt an vui lớn."

"Tâm cao thượng hai: Đệ tử áo trắng quán niệm chánh pháp được Phật giảng dạy tài tình dễ hiểu, có khả năng lớn đưa đến giải thoát mọi sự khổ đau và các phiền não; tâm được thư thái, không còn loạn động, an vui lâu dài."

"Tâm cao thượng ba: Đệ tử áo trắng quán niệm Tăng đoàn của đức Như Lai, đi trên nẻo thiện, thánh đạo chân chánh, hướng theo giáo pháp, thực tập giáo pháp, sống đúng giáo pháp. Có vị đã chứng quả A la hán, quả A na hàm, quả Tư đà hàm, quả Tu đà hoàn, hoặc đang trên đường đạt các quả ấy. Tăng đoàn gồm đủ bốn đôi, tám bậc, thành tựu đạo đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát cũng như tri kiến giải thoát. Thánh chúng như thế đáng được tôn kính, phụng sự, cúng dường, là ruộng phước tốt cho đời gieo trồng."

"Tâm cao thượng bốn: Đệ tử áo trắng quán niệm giới luật được Phật giảng dạy không có khuyết điểm, không bị tỳ vết, không bị nhơ uế, có khả năng lớn bảo hộ đạo đức, giúp người giữ giới an trú vững chãi trong cảnh giới Phật. Giới này thanh cao vốn được hiền trí khen ngợi, tiếp nhận, thực tập, truyền bá."

"Này các đệ tử, nên ghi nhớ rằng đệ tử áo trắng khi thực tập được bốn tâm cao thượng một cách trọn vẹn là đã chấm dứt các nẻo xấu ác, không còn đọa lạc địa ngục, ngạ quỷ và loài súc sanh, hướng đến chứng đắc quả Tu đà hoàn, ngay trong hiện tại. Người đệ tử ấy đi về nẻo giác, chuyển hóa phiền não, thanh tịnh thân tâm; qua lại tối đa bảy lần sinh tử trong cõi trời người là có thể đạt giác ngộ, giải thoát, không còn khổ đau."

Sau khi tuyên thuyết năm điều đạo đức, bốn tâm cao thượng, Thế Tôn ân cần trùng tuyên tóm tắt bằng một bài kệ dễ hiểu sau đây:

Người tại gia sáng suốt
Sợ các cảnh giới xấu
Siêng thực tập chính pháp
Chuyển hóa mọi khổ đau.
Giữ năm điều đạo đức:
Không giết hại sự sống
Chân thật, không trộm cắp
Chung thủy trong hôn nhân
Không nói lời tổn hại
Không rượu và ma túy.

Người đệ tử áo trắng
Thường thực tập niệm Phật
Thường thực tập niệm Pháp
Thường thực tập niệm Tăng
Thường quán niệm đạo đức
Nhờ đó, tâm thảnh thơi.
Người đệ tử áo trắng
Hoan hỷ với bố thí
Gieo trồng phước hiện tiền
Khéo thực tập chánh niệm
Giác ngộ và giải thoát.

Hãy quan sát đàn bò
Có con vàng, đỏ, trắng
Một màu hoặc có đốm
Dù bò màu sắc gì
Hoặc xuất xứ từ đâu
Giá trị thật của bò
Là ở sức chuyên chở.
Là con bò hữu dụng
Phải có sức khỏe mạnh
Kéo xe, chuyên chở nhiều
Giúp chủ trong công việc.

Trong thế giới con người
Dù xuất thân thế nào
Già trẻ hay nam, nữ
Vua chúa hay thương gia
Tu sĩ hay thường dân
Bất kỳ ai giữ giới
Sống trong sạch, đứng đắn
Trở thành người đạo đức
Khéo vượt khổ, thảnh thơi
Đạt được sự giác ngộ.
Cúng dường người như vậy
Sẽ được phước đức lớn.
Như Lai không phân biệt
Giai cấp và nguồn gốc.
Kẻ không có tài đức
Không lợi lạc cho ai.
Cúng dường người như thế
Không có giá trị nhiều.

Phật tử siêng tu huệ
Tâm hướng về Phật pháp
Căn lành luôn tăng trưởng
Hiện đời được hạnh phúc
Khi chết tái sinh lành
Qua lại trong trời người
Nhiều nhất là bảy lần
Tiếp tục tu nhân lành
Đạt niết bàn giải thoát.

KINH THẬP THIỆN

Tôi nghe như vầy. Một thời đức Phật ở tại Long cung của Ta Kiệt La. Có mặt với Phật, còn có tám ngàn Tỳ kheo xuất chúng, ba mươi hai ngàn vị đại Bồ tát. Tại hội chúng này, đức Phật đã dạy về tâm tạo nghiệp và mười nghiệp thiện tuần tự như sau:

"Này Ta Kiệt La và các đệ tử, vì tâm con người và các chúng sanh suy nghĩ khác nhau nên họ tạo nghiệp hoàn toàn sai khác, từ đó trôi lăn trong các cõi sống. Hãy hình dung xem, hình thù, màu sắc của các chúng sanh ở sông, biển, hồ hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt này là do chúng sanh tạo nghiệp thiện, ác từ thân, miệng, ý… chiêu cảm quả báo."

"Tâm không hình thù, không nhìn thấy được. Tâm tà tưởng vọng là sự giả dối, duyên huyễn tạo thành, không có chủ nhân, không có cái ta, không có sở hữu tùy thuộc vào ta. Biểu hiện của nghiệp vốn không giống nhau, tính chất của nghiệp thì có thiện, ác. Người tạo ra nghiệp do các điều kiện, bản chất của nghiệp không có định mệnh, số phận an bày."

"Người trí hiểu rõ đặc tính của nghiệp nên gắng tu thiện, chuyển hóa thân tâm. Nhờ tu tập này, thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư và các nhận thức đều được đoan chánh. Mười hai hành xứ gồm sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý) và sáu đối tượng (hình thái, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và vật hình dung) đều được đoan chánh. Sáu loại nhận thức phát sanh ra từ mười hai hành xứ đều trong chánh niệm. Ai tiếp xúc với người tu thiện nghiệp đều rất vui thích, hân hoan, không chán."

"Này các đệ tử, thân của các Phật từ trăm ngàn ức phước đức sinh ra. Tướng vẻ trang nghiêm, hào quang sáng rực, trí tuệ chiếu soi; dù vô lượng vị Tự Tại Phạm vương cũng không sánh bằng. Ai chiêm ngưỡng Phật, mắt không chói lòa, tâm được bình an. Thân của Bồ tát trang nghiêm như Phật, đều do phước đức nghiệp thiện mà sanh. Thế giới con người, tám bộ trời rồng, các loài dưới nước, trên không, dưới đất… thân hình đẹp xấu, hình thù lớn nhỏ, hạnh phúc, khổ đau… đều do các nghiệp thiện, ác tạo ra từ thân, miệng, ý. Nghiệp tạo thế nào, quả báo thế nấy, không có sai lệch."

"Này các đệ tử, hãy tin nhân quả, sống với nhân quả và dạy mọi người hiểu sâu nhân quả, tránh các nghiệp ác, tu tập nghiệp thiện. Khi có chánh kiến về chuỗi nhân quả, con người không còn rơi vào tà kiến: Chết rồi là hết, định mệnh thường hằng. Đối với ruộng phước từ ba ngôi báu, hãy nên cung kính, đảnh lễ, cúng dường. Nhờ nhân tốt này, được mọi người quý."

"Này các đệ tử, các bậc Bồ tát do tinh tấn tu một pháp đặc biệt mà dứt khổ não trong các đường ác. Đó là ngày đêm, trong từng tích tắc, quán sát pháp lành; làm cho thiện pháp tăng trưởng, phát triển; không để hào tơ bất thiện xen vào. Khi trồng trọn vẹn các hạt giống thiện tức thời là lúc tất cả gốc ác đã được chuyển hóa. Thường xuyên thân cận Phật và Bồ tát cùng các bậc Thánh."

"Này các đệ tử, thiện pháp vốn là nhân của cõi người và các cõi trời, là giống bồ đề của A la hán, Thanh văn, Duyên giác và Phật Độc giác, là nhân dẫn đến giác ngộ vô thượng. Tất cả quả giác, hạnh phúc, an lành đều nương tựa vào pháp lành mà được."

"Này các đệ tử, có mười điều lành làm nhân căn bản của phước và đức, trí tuệ, giải thoát. Ba thiện về thân là không sát sanh, trộm cắp, ngoại tình. Bốn thiện về miệng là không nói dối, không lời chia rẽ, không lời độc ác, không lời vô ích. Ba thiện về ý là không tham ái, sân hận, si mê. Nay ta lần lượt phân tích lợi ích của mười nghiệp thiện."

"Này các đệ tử, những người giữ được nghiệp không sát sanh sẽ được mười phước, xa lìa khổ đau, sầu lo, bất hạnh. Một là ban tặng niềm vui không sợ cho các chúng sanh. Hai là từ bi đối với chúng sanh. Ba là chuyển hóa thói quen giận dữ. Bốn là thân thể khỏe mạnh, bình an. Năm là sống lâu, sáng suốt, không lẫn. Sáu là thường được quý nhân ủng hộ. Bảy là vui vẻ trong thức và ngủ, không gặp ác mộng. Tám là chấm dứt các gút oan trái. Chín là không sợ rơi vào cõi ác. Mười là qua đời, sanh vào cõi trời. Nếu biết hồi hướng mười quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, thọ mạng tự tại, tùy theo sở thích."

"Này các đệ tử, những người giữ được nghiệp không trộm cắp sẽ được mười phước, xa lìa khổ đau, sầu lo, bất hạnh. Một là giàu sang, tài sản không bị lửa cháy, lụt trôi, giặc cướp, vua thu, người thân phá của. Hai là uy tín, được nhiều người mến. Ba là nhờ phước, không bị lừa gạt. Bốn là thân sơ tỏ lời khen ngợi. Năm là không lo sự tổn hại nào. Sáu là danh thơm, tiếng tốt đồn xa. Bảy là không sợ luật và đông người. Tám là giữ được tiền tài, tuổi thọ, sức khỏe, an vui. Chín là có lòng thương người, bố thí. Mười là qua đời, sanh về cõi trời. Nếu biết hồi hướng mười quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, được trí tuệ lớn, thanh tịnh, vô cấu."

"Này các đệ tử, những người không phạm tà hạnh, ngoại tình được bốn lợi ích, người trí ngợi khen. Một là gia đình hài hòa, hạnh phúc. Hai là thoát khỏi lo lắng, sợ hãi. Ba là được đời hết lời khen ngợi. Bốn là bạn đời không bị truyền nhiễm, tổn hại, khổ đau. Nếu biết hồi hướng bốn quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, được tướng ẩn tàng của bậc giác ngộ và Đại trượng phu."

"Này các đệ tử, những người từ bỏ các nghiệp nói dối, được tám lợi ích, người trí ngợi khen. Một là hơi miệng tỏa ra mùi thơm, sạch như hoa sen. Hai là uy tín, được đời tín phục. Ba là mọi người kính nể, thương quý. Bốn là dùng lời dịu dàng, nâng đỡ, cứu giúp mọi người. Năm là ý vui, ba nghiệp trong sạch. Sáu là lời nói không bị lầm lẫn, tâm luôn hoan hỷ. Bảy là nói lời lịch sự, tôn trọng, được người nghe theo. Tám là có trí, không ai qua mặt. Nếu biết hồi hướng tám quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, liền được chân ngữ của đức Như Lai."

"Này các đệ tử, người lìa bỏ được nghiệp nói hai lưỡi, được năm phước lành, không thể phá hoại. Một là thân thể không bị tật nguyền. Hai là quyến thuộc sum vầy, hòa thuận. Ba là uy tín tăng trưởng theo nghiệp. Bốn là đức hạnh, tu hành kiên cố. Năm được thiện hữu, không bị lừa dối. Nếu biết hồi hướng năm quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, được quyến thuộc tốt, tà ma ngoại đạo không thể phá hoại."

"Này các đệ tử, ai xa lìa được các nghiệp ác khẩu, được tám phước lành. Một là lời nói không trái pháp quy. Hai là lời nói luôn mang lợi lạc. Ba là lời nói hợp lý, logic. Bốn là lời nói đẹp lòng người nghe. Năm là lời nói được người lắng nghe. Sáu là lời nói được người tin dùng. Bảy là lời nói không bị chê trách. Tám là lời nói được người yêu mến. Nếu biết hồi hướng tám quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, đầy đủ âm thanh tuyệt hảo của Phật."

"Này các đệ tử, ai xa lìa được các lời vô ích, được ba chắc chắn. Một là chắc chắn được người trí mến. Hai là chắc chắn đối đáp nhanh trí. Ba là chắc chắn tăng trưởng uy tín, không bị dối trá. Nếu biết hồi hướng ba quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, được Phật thọ ký, là điều chắc chắn."

"Này các đệ tử, ai xa lìa được các tâm tham dục, được năm tự tại. Một là ba nghiệp luôn được tự tại, giác quan đầy đủ. Hai là của cải luôn được tự tại, không bị cướp đoạt. Ba là phúc đức luôn được tự tại, ước gì được đó. Bốn là uy quyền luôn được tự tại, được hiến vật quý. Năm là vật dụng hơn chỗ mong cầu, do không bỏn xẻn, ganh tỵ, ghen ghét. Nếu biết hồi hướng năm quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, chúng sanh ba cõi thường luôn tôn trọng, cung kính, cúng dường."

"Này các đệ tử, ai xa lìa được cái tâm giận dữ, được tám pháp hỷ. Một là có tâm không tổn hại ai. Hai là có tâm hòa bình, vui thuận. Ba là có tâm không gây kiện cáo. Bốn là có tâm chân thực, nhu hòa. Năm là có tâm từ bi của Thánh. Sáu là có tâm làm việc lợi lạc. Bảy là thân tướng đoan nghiêm, người mến. Tám là hòa nhẫn, sớm sanh Phạm thiên. Nếu biết hồi hướng tám quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, được tâm vô ngại của Phật, Bồ tát, người nhìn không chán."

"Này các đệ tử, ai xa lìa được các tâm tà kiến, được mười công đức. Một là vui thích việc thiện, bạn thiện. Hai là tin chắc nhân quả đạo đức, quyết không làm ác. Ba là nương tựa Phật, Pháp và Tăng; không thờ Thượng đế và các thần linh. Bốn là tâm thẳng, không còn lưới nghi những điều tốt, xấu. Năm là tái sanh làm người và trời, không vào đường ác. Sáu là phúc đức, trí tuệ tăng trưởng. Bảy là xa lìa mê tín, dị đoan; tu hành Thánh đạo. Tám không chấp thân, dứt các nghiệp ác. Chín là thành tựu trí tuệ vô ngại. Mười là thoát được những cảnh tai nạn. Nếu biết hồi hướng mười quả phúc này về đạo giác ngộ, khi chứng quả Phật, trí tuệ vô ngại, thần thông tự tại."

"Này các đệ tử, đang khi tu đạo, nếu có người nào xa lìa nghiệp sát, thường hành từ bi, thương loài hữu tình, thích ban mạng sống, xây dựng hòa bình, bảo vệ thiên nhiên, thì kẻ oán thù không thể hại được, hết nghiệp chết yểu, sống thọ, khỏe mạnh, sáng suốt, an vui."

"Nếu có người nào bỏ nghiệp trộm cắp, tôn trọng sở hữu, những gì không cho thì không được lấy; thích hạnh bố thí, giúp đỡ, cúng dường thì được giàu sang, tài sản đầy đủ, không thiếu thứ gì, không bị hư hại, đầy đủ tri thức về giáo pháp Phật, hành trì an vui."

"Nếu có người nào không dính ngoại tình, từ bỏ tà dâm, giữ gìn tiết hạnh, chung thủy vợ chồng, không xâm hại ai, không đem lòng dục nhìn ngó người khác, quan tâm chăm sóc người bạn đời mình và các con cái, chăm sóc hạnh phúc của cả gia đình sẽ sống hạnh phúc vợ chồng trăm năm, thoát khỏi sợ hãi và nhiều tai họa."

"Nếu có người nào bỏ nghiệp dối trá, nói lời chân thật, tôn trọng chân lý, tránh lời hủy báng, chỉ trích, gây sự; luôn nói lời ngay, bảo vệ chánh pháp, giữ nguyện của mình thì quyết định đạt nhiều hạnh phúc lớn, không bị vu khống, không bị gièm pha."

"Nếu có người nào bỏ nghiệp ly gián, không nói chia rẽ; nói lời hòa hợp, xây dựng đoàn kết, nối kết tình thương, thì được quả phước quyến thuộc thuận hòa, đồng chí nguyện tốt, không gặp ngang trái, không bị tranh chấp, không vướng kiện tụng; thân tâm thơi thới."

"Nếu có người nào không nói lời ác, văng tục, nguyền rủa, chửi bới quát tháo, chì chiết nặng nhẹ, ngữ điệu khó nghe, ngôn ngữ vô duyên thì được phước báo tăng trưởng uy tín, được người lắng nghe, không chút trái nghịch, đạt niềm vui lớn."

"Nếu có người nào từ bỏ tán dóc, không lời vô ích, từ bỏ thị phi thì được phước báo mọi người tin tưởng, thể hiện kính trọng, không ai ngờ vực, đạt lợi ích lớn."

"Nếu có người nào từ bỏ tham ái (đam mê hưởng dục, đam mê tái sanh, thích sự kết liễu), không còn tham lam bất cứ cái gì vốn là phi pháp; không còn bỏn xẻn, ganh tỵ, tật đố; thường thích bố thí, tặng biếu sở hữu, giúp người cứu đời thì được phước báo uy lực tăng trưởng, niềm tin kiên cố, buông được chấp mắc."

"Nếu có người nào từ bỏ sân hận, không còn bực tức, hiềm khích, bất mãn; không thương tổn ai, không xúc phạm ai, từ bỏ bạo lực và các khủng bố… thì được phước báo tâm trí vô ngại, không có kẻ thù, các căn trang nghiêm, người thấy đều thích."

"Nếu có người nào chuyển hóa si mê, mê tín, dị đoan; không còn tà kiến, thoát khỏi do dự và tâm ba phải… thì được phước báo tăng trưởng chánh kiến, luôn biết chăm sóc tâm bồ đề lớn, hiểu rõ nhân quả, kính tin Tam Bảo, ứng xử chân chính, hạnh phúc tràn đầy."

"Này các đệ tử, khi tu Bồ tát, làm mười nghiệp lành, siêng năng bố thí, chắc chắn đạt được nhiều lợi ích lớn, nay và mai sau."

"Ai dùng giới đức trang nghiêm hạnh phúc, một lòng hướng về nghĩa lợi Phật pháp, thực tập nguyện lớn chắc chắn đạt được nhiều quả phúc lớn. Ai dùng kham nhẫn trang nghiêm bản thân được viên âm Phật, đủ các tướng tốt. Ai dùng tinh tấn trang nghiêm phước đức sẽ phá ma quân, vào pháp tạng Phật. Ai dùng thiền định trang nghiêm cõi tâm sẽ có chánh niệm, lương tâm, khinh an, trí tuệ sâu xa. Ai dùng trí tuệ trang nghiêm cuộc sống sẽ dứt phân biệt, không còn vọng tâm, quét sạch tà kiến."

"Ai dùng từ bi trang nghiêm hạnh phúc thì không còn tâm não hại một ai; thương xót chúng sanh, không hề phân biệt, cũng không bỏ sót. Ai dùng hoan hỷ trang nghiêm tấm lòng thì không ganh ghét người tu học thiện. Ai dùng buông xả xử lý khổ đau trước cảnh thuận nghịch, tâm được bình an, không còn buồn giận."

"Ai dùng chánh niệm trang nghiêm thân tâm sẽ không rời bỏ pháp tứ niệm xứ: Quán thân, cảm giác, tâm và ý niệm. Ai biết sử dụng bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự trang nghiêm cuộc sống sẽ giáo hóa được vô số chúng sanh. Ai dùng tinh tấn để tự trang nghiêm thì sẽ dứt sạch các pháp xấu ác, thành tựu thiện nghiệp, sống trong hạnh phúc. Ai dùng thần túc để tự trang nghiêm thì thân và tâm nhẹ nhàng, vui vẻ."

"Ai dùng năm căn hay dùng năm lực (bao gồm tín, tấn, niệm, định và tuệ) trang nghiêm cuộc sống thì niềm tin vững, tinh tấn, không mê, không còn oán thù, dứt các phiền não, vắng lặng, điều thuận; không gì hại được."

"Ai dùng bảy giác (bao gồm trạch pháp, tinh tấn, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, thiền định, hành xả) trang nghiêm đạo hạnh sẽ sớm giác ngộ bản chất các pháp."

"Ai dùng tám chính (tầm nhìn chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành động chân chính, nghề nghiệp chân chính, siêng năng chân chính, chánh niệm, chánh định) trang nghiêm tự thân sẽ được trí tuệ, giải quyết vấn nạn, hiện tại an vui."

"Ai dùng phương pháp thiền chỉ và quán trang nghiêm tâm thức sẽ rõ thực tướng của các sự vật. Ai dùng phương tiện giúp người cứu đời sẽ chóng thành tựu niềm vui niết bàn."

"Này các đệ tử, tu tập trọn vẹn mười nghiệp thiện này sẽ giúp thành tựu mười năng lực lớn, bốn pháp vô úy, mười tám bất cộng, tất cả Phật pháp đều được viên mãn. Vì thế ta khuyên tất cả mọi người siêng năng thực tập mười nghiệp thiện này. Ví như thành trì, phố xá, làng xóm, nhà cửa, cây cối… đều nương địa cầu để an trụ vững và được tăng trưởng. Tương tự như thế, mười nghiệp thiện này, tất cả con người, chư thiên, Thanh văn, Duyên giác, Độc giác và các Bồ tát, hết thảy Phật pháp đều nương nền tảng mười thiện mà thành. Không đạt mười thiện không thể hạnh phúc, giác ngộ, giải thoát."

Phật vừa dứt lời, vua Ta Kiệt La, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thực tập, truyền bá kinh này.

KINH BÁT QUAN TRAI GIỚI

Tôi nghe như vầy. Một thời đức Phật ở điện Thừa Tướng, thuộc thành Xá Vệ, mẹ quan Thừa Tướng là bà Duy Da và các con dâu đến thăm viếng ngài. Sau khi lễ Phật, họ ngồi một bên, thỉnh Phật tuyên thuyết các lợi ích của Bát quan trai giới.

"Này bà Duy Da, về trì trai giới có ba nhóm loại. Một là trì trai như người chăn trâu. Hai là trì trai như đạo lõa thể. Ba là trì trai đúng với Phật pháp."

"Thế nào gọi là trì trai giống như những kẻ chăn trâu? Những kẻ mục đồng thường mong ước được nước sạch, cỏ xanh cho trâu ăn uống. Chiều về họ nghĩ cánh đồng phong nhiêu, để vào ngày mai lùa trâu đến đó. Công việc của họ là chăn và lùa, cho ăn, lấy sữa. Tương tự, nam nữ đã nhận trai giới lại bận tâm vào tham dục, sản nghiệp, thức ăn ngon ngọt, để làm thỏa mãn cái tâm ham thích. Tiếp nhận trai giới như cách vừa nêu không được lợi lạc và thiếu sáng suốt."

"Thế nào gọi là trì trai giống như tu đạo lõa thể? Vào những ngày rằm, người theo đạo này nằm sát xuống đất, tiếp nhận trai giới, họ lạy thần linh trong mười cây số và cầu nguyện rằng: "Hôm nay ngày trai, tôi không làm ác, tôi không dám nói có nhà của người hay nhà của mình, tôi không thân quen; vợ, con, tôi tớ không phải sở hữu, tôi không phải là chủ nhân của họ." Cách làm như thế chẳng qua chỉ là loại học văn sang mà chữ thì hèn, không có thực tâm. Qua sáng hôm sau, đâu cũng vào đấy, không chút thay đổi tâm tánh, thói quen. Trì trai như thế không lợi ích lớn do thiếu sáng suốt."

"Thế nào gọi là trì trai chân chính đúng với Phật pháp? Phật tử thuần thành, mỗi tháng sáu ngày, tiếp nhận tám giới với tâm thanh tịnh, thực hành nghiêm túc, làm mới thân tâm, mang lại hạnh phúc, an lạc dài lâu."

"Trai giới thứ nhất trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, thương tưởng chúng sanh, không gieo sát nghiệp với người, côn trùng và các loài vật; không dùng dao, gậy giết hại chúng sinh; góp phần xây dựng thế giới hòa bình, xã hội an vui; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ hai trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, chuyển hóa lòng tham, từ bỏ trộm cắp, những gì không cho thì không được lấy; tôn trọng sở hữu của những người khác; thích hạnh bố thí, chia sẻ giúp người; khi tặng biếu ai phải thật trân trọng, không gây mặc cảm; cho không mong cầu đền đáp về sau; bỏ tâm tham lam, keo kiệt, bủn xỉn; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ ba trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, không có tà ý, không vướng dục lạc, không màng tính dục, không thích nhan sắc; tu hạnh thanh cao; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ tư trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, không nói vọng ngữ, tâm niệm chân chính, ngôn ngữ chân thật, không lời dối gạt, tâm khẩu tương ứng, nói gì làm nấy, làm gì nói nấy; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ năm trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, không uống rượu bia, ma túy, thuốc lá và độc tố khác; tâm không mê loạn, không bỏ chánh niệm, ý không buông lung, hạnh luôn đoan chánh; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ sáu trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, không dùng trang sức, không xịt nước hoa, không thoa phấn sáp, không ăn mặc đẹp; không ca, hát, múa; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ bảy trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, không nằm giường nệm sang trọng đắt tiền, không ngủ quá nhiều; sống ngày giản dị; vui với Phật pháp; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Trai giới thứ tám trong một ngày đêm, như bậc chân nhân, ăn uống đúng thời, sau ngọ không ăn; tiết chế ăn uống, làm nhẹ thân thể; vui với Phật pháp; hết lòng thực tập giới này thanh tịnh."

"Này các đệ tử, đó là tám giới mà những người đời tập tu một ngày như người xuất gia. Để ngày trì trai được quả phúc lớn, người nhận trai giới cần luôn ghi nhớ năm niệm sau đây."

"Một là niệm Phật với mười đức hiệu: Phật là Như Lai, là bậc Chí chân, bậc Chánh đẳng giác, bậc Minh hạnh túc, bậc Thế gian giải, bậc Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, bậc thầy trời người, là bậc Thế Tôn. Nhờ tâm niệm Phật, trạng thái ngu si, ác ý, phẫn nộ và các bất thiện đều không khởi lên; tâm thiện lớn mạnh, vui với nghiệp Phật, đức lành tăng trưởng, được người quý mến; như người gội đầu trừ sạch gầu bẩn."

"Hai là niệm Pháp là trí tuệ lớn, soi sáng thế giới, xóa tan khổ đau, mang lại hạnh phúc. Giáo pháp rất nhiều, gồm trong băm bảy yếu tố giác ngộ: Bốn điều quán niệm, bốn thứ tinh tấn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy chi giác ngộ và tám chánh đạo. Nhờ tâm niệm pháp ta có giải pháp thoát mọi khổ đau."

"Ba là niệm Tăng, đoàn thể xuất gia, bốn đôi tám bậc, có lý tưởng lớn, học tu Phật pháp, tỏ ngộ Phật tuệ, chứng đắc đạo quả hoặc đang trên đường chứng đắc đạo quả, từ quả thứ nhất đến A la hán. Tăng đoàn vốn đã đạt được đạo đức, thiền định, trí tuệ và tuệ giải thoát; đầy đủ các hạnh, tròn đầy thánh đức; đáng làm ruộng phước cho đời gieo trồng. Nhờ niệm Tăng đoàn, các nghiệp si mê, ác ý, phẫn nộ đều được trừ sạch, sanh tâm hoan hỷ, vui thích việc thiện. Như lấy tro chín giặt tẩy áo quần không còn nhơ bẩn."

"Bốn là niệm Giới. Khi đã tiếp nhận giới luật của Phật, nên giữ trọn vẹn, không tạo tỳ vết, không để thiếu sót, giữ gìn trang nghiêm và luôn miên mật; tâm không dao động, thân không phóng túng; tất cả việc làm đều hợp trí tuệ, không hề hối hận; không còn phân biệt, dùng tâm bình đẳng giáo hóa, độ người; điều phục đại chúng theo đường đạo đức; tâm luôn hoan hỷ, sống trong an lành. Ví như mài gương, phẳng lì, sáng tỏ, chiếu soi các vật. Người giữ giới hạnh, thân tâm thanh tịnh, an lạc tràn đầy."

"Năm là niệm Thiên, gồm Tứ Thiên vương, Đao Lợi, Diệm Ma và trời Đâu Suất, cùng nhiều trời khác. Nên hiểu tin rằng tái sinh cõi thiên là do thực tập chánh tín, giới hạnh, bố thí, trí tuệ… và nhiều nghiệp lành. Ví như châu báu, phá tan tối tăm, mang lại ánh sáng. Người niệm chư thiên, tăng thêm niềm tin về nhân quả lành, vững đường đạo đức."

"Này các đệ tử, những ai thực tập trọn vẹn tám giới và năm tâm niệm vừa được nêu trên, hiện đời an lạc do dứt bất thiện, tăng trưởng điều lành, phát triển tâm linh, chứng đạt niết bàn; đến khi qua đời, sanh về cõi lành hoặc các cõi trời. Những người có trí ra sức thực tập, chuyên tâm làm phúc, chuyển hóa khổ đau."

"Này bà Duy Da và các đệ tử, phước và an lành của ngày thực tập Bát quan trai giới đáng được khen ngợi, còn vượt trội hơn tài sản, của báu của mười sáu nước gộp lại cùng nhau. Tuổi thọ cõi trời dài lâu không xiết."

"Có những cõi trời, một ngày một đêm bằng năm mươi năm ở địa cầu này. Tại cõi Tứ Thiên, người sống rất thọ, đến năm trăm năm, bằng trên địa cầu chín trăm vạn năm. Cả một trăm năm trên địa cầu này chỉ bằng một ngày trên trời Đao Lợi. Người ở Đao Lợi thọ một nghìn tuổi bằng trên dương gian ba nghìn sáu trăm vạn năm dài dẳng. Hai trăm năm dài trên địa cầu này chỉ bằng một ngày của cõi Diêm Thiên. Tuổi thọ của người trên cõi Diêm Thiên dài hai ngàn tuổi, bằng trên trần gian một ức năm nghìn hai trăm vạn năm. Cả bốn trăm năm trên địa cầu này chỉ bằng một ngày của trời Đâu Suất. Người trời Đâu Suất thọ bốn nghìn tuổi, bằng trên trần gian đến sáu ức tám trăm vạn năm dài… Chênh lệch thời gian ở địa cầu này với các cõi trời là vô cùng lớn, không thể kể hết."

"Người giữ trang nghiêm Bát quan trai giới, đầy đủ chánh tín, thực tập bố thí, phát triển trí tuệ, đến khi qua đời sẽ được sanh về các cõi trời ấy, tùy theo phước báu của mình đã tạo, để hưởng an lạc, dài lâu vô cùng. Nói về việc thiện thì nhiều không xiết. Trong pháp hội này, ta chỉ lược nói một vài trường hợp. Ai làm việc thiện, sống được hạnh phúc, chết thì nhẹ nhàng, tái sanh cõi lành, hoặc các cõi trời, để hưởng hạnh phúc, an lạc dài lâu."

Phật vừa dứt lời, quý bà Duy Da và người có mặt vô cùng hoan hỷ, đảnh lễ Thế Tôn, tán dương việc thiện, phát nguyện tiếp nhận Bát quan trai giới sáu ngày mỗi tháng, đồng thời phát nguyện nỗ lực làm phúc, giúp người cứu đời, không hề thoái lui. Mọi người hạnh phúc, giữ gìn trai giới.

KINH NHÂN QUẢ ĐẠO ĐỨC

Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, tại chùa Kim Sư, thuộc thành Vương Xá, có ông Thuần Đà đến đảnh lễ Phật. Nhân đó, đức Phật ôn tồn hỏi ông: "Hiện ông ưa thích pháp tu tập nào, của các Sa môn hay Bà la môn?"

Thuần Đà bạch Phật: "Kính bạch Thế Tôn, con kính Sa môn và Bà la môn thờ Iśvara, vị thần sáng thế, một tay cầm trượng, tay cầm bình nước. Thần này dạy rằng, ngày rằm mỗi tháng, dùng chất hồ ma và am ma la để gội đầu tóc, mặc áo trắng đẹp, đeo tràng hoa dài, giữ gìn trai giới, rồi nằm trên đất có trét phân bò. Sáng sớm ngày rằm, tay sờ vào đất rồi nói như sau: đất này trong sạch, tôi cũng trong sạch. Tay cầm phân bò với nắm cỏ tươi, miệng nói như sau: phân cỏ trong sạch, tôi cũng trong sạch. Chúng con được dạy, ai làm như vậy sớm được trong sạch; không làm điều này sẽ bị bất tịnh. Từ đó trở đi, con kính Sa môn và Bà la môn tu hạnh trong sạch vừa được trình bày."

Nhân đó đức Phật dạy ông Thuần Đà và người có mặt nhân quả đạo đức như lời sau đây.

"Này các đệ tử, có loại nghiệp đen tạo quả báo đen; có nghiệp bất tịnh cho quả bất tịnh, cũng như gánh nặng thì luôn chúc xuống. Đây là quy luật của nhân và quả với sự báo ứng. Nếu ai đã tạo nghiệp đen, bất tịnh thì dù hàng ngàn những cái sớm mai lấy tay sờ đất, miệng niệm ‘thanh tịnh’ vẫn bị bất tịnh, nếu không thực tập chuyển nghiệp bất tịnh. Ai cầm phân bò với nắm cỏ xanh mà nói thanh tịnh thì trên thực tế vẫn là bất tịnh, ngay cả tình trạng chưa đụng đến phân, bản chất của phân cũng đã ô nhiễm và bất tịnh rồi."

"Này các đệ tử, có ba điều ác do thân tạo tác, mang lại khổ đau, gây nhiều tổn thất. Một là sát sanh, bất cứ người nào tay tanh mùi máu, tâm thích đánh đập, sát hại, bạo động, không chút hổ thẹn, tham lam, keo kiệt, hành hạ chúng sanh, bao gồm con người, động vật, côn trùng… là đang gieo nghiệp sát sinh, hại vật. Hai là trộm cắp tài vật của người, của làng, của nước, từ vật nhỏ nhoi cho đến đất đai là phạm pháp luật. Ba là tà dâm, dùng sức cưỡng bức, làm việc tà vạy đối với những người được bảo hộ bởi cha mẹ, anh em, chị em, chồng vợ, hoặc là thân quyến… là phạm luật pháp, trái với đạo đức."

"Này các đệ tử, có bốn điều ác do miệng tạo tác. Một là vọng ngữ, nói không chân thật ở chốn công đường hoặc với người khác, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, không nghe nói nghe, nghe nói không nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, hoặc vì tài lợi, hoặc vì quyền lợi, hoặc lý do nào... đều là phạm pháp. Hai là lưỡng thiệt, nói lời chia lìa, đem chuyện đầu này đến nói đầu kia, tạo sự mâu thuẫn, chống đối lẫn nhau, gây mất đoàn kết. Ba là ác khẩu, buông lời chửi bới, mắng nhiếc gắt gao, cộc cằn, thô lỗ, thề cay rủa độc, cho người khổ đau. Bốn là lời phiếm, nói không thực tế, lời nói vô nghĩa, lời nói phi pháp, nói thiếu suy nghĩ, nói không đúng lúc, nói lời tán dóc."

"Này các đệ tử, có ba điều ác do tâm tạo tác, mang lại khổ đau, bất hạnh lâu dài. Một là tham lam, chỉ biết thỏa mãn khoái lạc giác quan; uống ăn vô độ, chơi bời hưởng thụ, tiêu xài phung phí. Lòng tham ích kỷ hại mình hại người, vi phạm luật pháp, trái với đạo đức. Hai là sân hận bao gồm giết chóc, đả thương, phá hoại, xung đột, tranh chấp, hận thù không buông, giận tức, hờn dỗi, ganh tỵ hơn thua, tạo nghiệp khủng bố, gây bao thù oán, đứng ngồi không yên. Ba là si mê, tà kiến, điên đảo, mê tín, dị đoan, tin điều quái gở; không tin đời sau, không tin nhân quả, không tin đạo đức, không tin thiện ác; không có cha mẹ, không có hóa sinh, không có thánh nhân, không tin tiềm năng, không tin nỗ lực, chấp nhận số phận định đoạt bởi Chúa… Những điều vừa nêu đều là tà kiến, gây khổ đời này, chịu khổ đời sau."

"Này các đệ tử, mười ác nêu trên gọi là nghiệp đen tạo kết quả đen, là nhân bất tịnh tạo quả bất tịnh. Gánh nặng khổ đau luôn luôn trút xuống đối với những người gieo nghiệp xấu ác."

"Này các đệ tử, thế nào gọi là nghiệp trắng quả trắng, nhân phúc quả phúc, nghiệp tịnh quả tịnh, giúp người hướng thượng?"

"Này các đệ tử, có mười điều thiện, tạo ra nhân quả báo ứng hạnh phúc."

"Có ba nghiệp thiện do thân tạo tác. Một là bất sát, từ bỏ giết chóc, từ bỏ vũ khí, thương xót chúng sinh, không dùng vũ lực, thương tổn, hãm hại; bảo hộ sự sống, yêu chuộng hòa bình, bảo vệ môi trường. Hai là không trộm, từ bỏ cướp giật, vật gì không cho thì không được lấy, tôn trọng sở hữu, tâm sạch không tham; khi có điều kiện, ưa thích bố thí, cứu ngặt, cứu nghèo, vượt qua khổ đau. Ba là chung thủy, từ bỏ tà hạnh, bảo hộ hôn nhân, bảo hộ hạnh phúc."

"Có bốn nghiệp thiện do miệng tạo tác. Một là phát ngôn luôn hợp sự thật, xây dựng uy tín. Hai là lời nói hòa hợp, đoàn kết, tùy hỷ lẫn nhau. Ba là nói lời lịch sự, dễ nghe, giúp người hoan hỷ. Bốn là nói lời ý nghĩa, giá trị, xây dựng hiểu biết."

"Có ba nghiệp thiện do ý tạo tác. Một là lìa tham, buông xả, không dính. Hai là hết sân, bảo hộ sự sống. Ba là không si, sống với chánh kiến, tin sâu nhân quả, tin có kiếp sau, tin vào điều thiện, tin các thánh nhân."

"Này các đệ tử, mười nghiệp nêu trên tạo ra quả trắng, hạnh phúc, an vui, đời này, đời sau. Bất kỳ người nào thành tựu trọn vẹn mười nghiệp thiện trên, dù có sờ đất dơ dáy, bẩn thỉu, hoặc cầm phân bò với nắm cỏ tươi, cũng được thanh tịnh."

Phật vừa dứt lời, gia chủ Thuần Đà và người có mặt vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá kinh này.

KINH PHÂN BIỆT NGHIỆP BÁO

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, tại chùa Kỳ Viên, thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, đức Phật cho gọi tôn giả A Nan tập họp Tăng đoàn và dạy như sau:

"Này các đệ tử, người đời thường bị giác quan lừa gạt, gây nhiều tổn hại: Mắt bị hình thù, màu sắc lừa gạt, tai bị các loại âm thanh lừa gạt, mũi bị các mùi thơm tho lừa gạt, lưỡi bị các vị ngon ngọt lừa gạt, da bị các vật xúc chạm lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy lừa gạt. Do bị đắm nhiễm, chạy theo giác quan, con người bị lừa, chìm trong đau khổ, khó mong giải thoát, chết lại tái sinh, rơi vào cõi ác. Những người có trí làm chủ giác quan, làm chủ tâm ý, làm chủ hành vi, nên không bị hại."

"Này các đệ tử, có mười hành động từ thân, khẩu, ý, rất nhiều người đời ưa thích thực hiện: Ba nghiệp từ thân: sát hại, trộm cắp, tà hạnh ngoại tình. Bốn nghiệp từ miệng: lừa dối, đâm thọc, lời ác, tán gẫu. Ba nghiệp từ ý bao gồm: tham ái, giận dữ, si mê. Vì mười nghiệp ác, rất nhiều chúng sanh sống trong bất hạnh, khổ đau cho mình, gây họa cho người. Đến lúc qua đời, sanh vào cõi dữ. Những người có trí thấy rõ hậu quả của các nghiệp xấu nên nỗ lực tu, tinh tấn làm phúc, chuyển hóa thân tâm."

"Này các đệ tử, có sáu đam mê, dẫn đến tham luyến, làm cho người đời vướng vào khổ đau, gây nhiều tổn hại, đánh mất chính mình: Mắt mê hình sắc, tai mê âm thanh, mũi mê các mùi, lưỡi mê các vị, thân mê xúc chạm, ý mê ý niệm quá khứ, tương lai."

Tôn giả A Nan cung kính thưa Phật: "Bạch đức Thế Tôn, người tin Tam Bảo, giữ gìn giới hạnh có thể thoát được cảnh khổ hay không?"

"Này các đệ tử, người có lòng tin vào ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng, sống giữ giới hạnh, siêng làm việc lành, thực tập thiền định, chuyển hóa tâm thức thì được phước lớn, lợi lạc vô cùng. Cũng có những người giả mượn danh nghĩa của người Phật tử, giả vờ kính tin Phật, Pháp và Tăng, chuyên làm tà vạy, tham lam vô độ, không chế ngự tâm, tham luyến sắc dục, ưa thích hưởng thụ, đam mê rượu thịt, phóng đãng buông lung… thì tội của họ không thể lường được. Hiện đời bất hạnh cho mình và người. Chết trong khổ đau, tái sanh cõi dữ, khó mong thoát khỏi."

"Này các đệ tử, về thờ Tam Bảo, có ba hạng người. Một là bọn ma tôn thờ đức Phật. Hai là người trời tôn thờ đức Phật. Ba là Phật tử tôn thờ đức Phật."

"Các đệ tử ma tôn thờ đức Phật được hiểu như sau. Có người theo Phật, thậm chí đi tu, hoặc mượn danh nghĩa là người theo Phật, nhưng trong thâm tâm gieo nghiệp tà kiến, truyền bá mê tín, bói toán, xin xăm, cúng sao, phong thủy, đồng bóng mê hoặc, vận hạn tốt xấu, tin có ma quỷ phá hoại cửa nhà, tin vào số phận, hoặc tin ngẫu nhiên, không tin nhân quả, không tin tội phước, không có chánh kiến, siểm nịnh yêu quái… vì nghiệp xấu này khó hưởng dư phước, tạm thời gặp Phật lại đi đường tà, có cũng như không, lẩn quẩn khổ đau, không ngày thoát ra."

"Này các đệ tử, thế nào gọi là người trời thờ Phật. Có nhiều đệ tử sau ngày quy y, nương Phật, Pháp, Tăng, giữ năm đạo đức, làm mười điều thiện, lúc gặp khó khăn, những khi bệnh tật, ngay cả cám dỗ… cũng không dám phạm, tin sâu tội phước, làm thiện gặp phúc, tạo ác gặp khổ; không phạm luật pháp, sống có tình người, sống gương cao thượng, hiện đời hạnh phúc, chết sanh cõi lành, làm người hoặc trời."

"Này các đệ tử, thế nào gọi là Phật tử thờ Phật? Không chỉ là người quy y Tam Bảo, mà còn là người giữ gìn năm giới, sống rất đạo đức, học hiểu kinh luật, trau dồi trí tuệ, hiểu rõ ba cõi là nơi đau khổ, tâm cầu an lạc, giải thoát hiện tiền; tâm không tham đắm, chấp dính điều gì; thương xót chúng sanh, cứu người giúp đời không tiếc thân mạng; có chí tiến thủ trong các việc phước; từ bỏ mê tín, không theo dị đoan; tu bốn nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự), sáu ba la mật (bố thí, giữ giới, kham nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ), tin vào tái sanh, phát nguyện đời đời làm đệ tử Phật, sống trong an lạc, hạnh phúc hiện tiền."

"Này các đệ tử, sau khi Như Lai đã nhập niết bàn một ngàn năm sau, có nhiều tà thuyết xuất hiện tràn lan, thời thế yêu ác, có nhiều quốc gia mất đi chủ quyền, nhân dân không được an cư lạc nghiệp, chiến tranh tàn phá, ngoại xâm gây khổ, nội loạn bất an. Nhiều nơi quốc gia đánh mất kỷ cương, xã hội bất ổn, lòng người nghi oán. Đây là giai đoạn của thời tượng pháp."

Tôn giả A Nan liền thưa Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, vì sao gọi là thời kỳ tượng pháp?"

"Này các đệ tử, đó là thời kỳ, có nhiều tu sĩ không theo chánh pháp, không giữ giới hạnh, sống như tại gia, tâm không hổ thẹn, chỉ lo đầu tư các nghề nghiệp đời, không có kiến thức, không học Phật pháp, không tu thiền định, không chuyển hóa tâm, thích lối ăn mặc theo kiểu thế tục, trên dưới lộn xộn, đắm theo sắc dục, không sợ tội lỗi, không bận tâm nhiều đến việc độ đời, giáo hóa chúng sanh, giúp họ an lạc. Khi gặp phải người thấu hiểu Phật pháp, khuyên lơn tu học, chuyển hóa nghiệp phàm, hướng về nẻo thánh… thì sanh tâm xấu, oán ghét, chỉ trích, phỉ báng, phá hoại; còn chê trách rằng người góp ý mình là thiếu hiểu biết. Ảnh hưởng chánh pháp do vậy giảm dần."

Tôn giả A Nan tiếp tục hỏi Phật: "Bạch đức Thế Tôn, thời tượng pháp ấy, có nhiều hay chăng những người phụng trì chánh pháp Như Lai?"

"Này các đệ tử, dù là tượng pháp, vẫn có nhiều người kính tin Tam Bảo, phát tâm xuất gia, giữ gìn giới luật, sống trong lục hòa, tinh thông nghĩa pháp, đa văn hiểu biết, phát triển Phật pháp, làm lợi quần sanh, giúp cho nhiều người hưởng được lợi lạc. Trong giai đoạn này, cũng có nhiều người theo các đạo khác đến xin xuất gia, học theo Phật pháp. Cần phải cẩn trọng, nên cho tập sự trong đôi ba tháng. Nếu nhận thấy được ý chí của họ hợp với giới hạnh, đời sống thanh cao, tâm tư rỗng lặng, ít không ham muốn, không làm điều sai, có chí tu học… thì mới cho tu. Trước truyền cho họ các giới thập thiện. Dăm ba năm sau, nếu thấy người ấy tu đúng chánh đạo, không phạm giới nào, siêng tu thiền định, thì mới tiếp tục cho họ thọ giới làm thầy Tỳ kheo. Những người như thế, nếu tinh tấn hơn, hướng đến giải thoát, nhất định trước sau được Phật Di Lặc tiếp duyên độ thoát."

Tôn giả A Nan cung kính bạch Phật: "Sau này có ai muốn tu chánh pháp, xa lìa phàm tục, xuất gia tu tập, nếu không gặp được các bậc minh sư truyền trao giới pháp, mà chỉ gặp người viết chép giới luật truyền trao lại thôi, những người như thế có được độ thoát và thành tựu được các Phật sự không?"

Đức Phật ân cần dạy ngài A Nan: "Người nào tinh thông giới và chánh pháp mới có khả năng truyền trao giới pháp. Truyền qua văn tự khó mà đúng pháp. Phật là đại trí, trên cả trời người, là bậc minh triết, có một không hai. Phật luôn hóa độ tất cả chúng sinh. Những người không thông, không nên vọng truyền, đánh mất tông chỉ. Phải hiểu rõ được giới luật, chánh pháp, lão thông mọi việc mới có thể truyền giới pháp cho người. Người chưa thông hiểu mà thích lạm truyền là trái lời Phật, sẽ gây hoang mang và mất niềm tin. Việc làm như thế không ích lợi gì cho cả người truyền và người tiếp nhận, đồng thời lại phạm vào lỗi không nhỏ. Nên người đời sau phải suy xét rõ."

Tôn giả A Nan tiếp tục bạch Phật: "Nếu người có chí, chán khổ thế gian, muốn được giải thoát, gặp thời không Phật, thì làm cách nào độ họ an vui?"

Đức Phật liền dạy: "Người có chí nguyện cần gặp minh sư, am hiểu Phật pháp và các giới luật, hướng dẫn tận tường cách giữ oai nghi và giới lớn nhỏ. Thầy mà không hiểu chánh pháp và luật mà lại truyền dạy cho các đệ tử thì cả hai bên đều bị mê lầm, không thể giải thoát. Về đời sau này, có các thầy tu ô nhiễm, phá giới, hành động phi pháp, chạy theo danh vọng mà mong an lạc thì khó thoát khỏi quả báo không vui. Người tu như thế thật đáng thương xót."

Tôn giả A Nan: "Kính bạch Thế Tôn, người có nhân duyên xuất gia tu học là đều nhờ vào oai thần của Phật, lẽ ra phải được hướng đến giải thoát, tại sao có người không tin Phật pháp, để phạm giới luật, chịu nhiều khổ đau trong nhiều kiếp sống?"

Đức Phật dạy rằng: "Là do kiếp trước đọa vào cảnh khổ, do vì đau đớn, người ấy nhất thời ăn năn hối cải, nên được chút phước, sanh ra làm người, gặp được Phật pháp, cạo bỏ râu tóc, làm vị xuất gia. Các nghiệp xấu cũ chưa trị dứt điểm, tâm còn do dự, không gặp các bậc minh sư, tri thức, nên thường sống trong hành động ô trược, đạo không ra đạo, đời không ra đời. Những người như thế lần lượt đọa lạc các cảnh khổ cực, lãnh lấy quả báo khổ đau nhiều kiếp."

"Này các đệ tử, là người xuất gia, không màng hôn nhân, lìa xa gia đình, từ bỏ kinh doanh, làm vị Sa môn thì các ông phải siêng năng thực tập, giữ gìn giới đức, đúng như giới pháp của A la hán. Thà uống đồng sôi, cháy tiêu ruột gan, quyết không làm người không có giới đức nhận của tín thí. Người không giới đức nhận của tín thí sẽ phải chịu khổ nhiều đời, nhiều kiếp. Khi được thân người phải chịu đền trả các nghiệp đã gieo. Lúc làm con cái, khi làm cha mẹ đền trả nợ nhau."

Tôn giả A Nan: "Xin Phật nói rõ nghĩa của đền trả?"

Đức Phật dạy rằng: "Sự vay và trả trong nghiệp luân hồi vô cùng phức tạp. Có người làm công bị chủ đánh chửi, đối xử vô đạo mà vẫn cam chịu, không chút oán hận, lại còn siêng năng làm tốt các việc, không than mỏi mệt, giữ gìn, bảo vệ tài sản của chủ, không để hư mất. Có người làm thân tôi tớ bất hạnh, bị chủ đánh đập, mắng chửi tàn tệ, đối xử vô đạo, thế vẫn cam chịu, không hề oán hận, lại còn siêng năng làm tốt công việc không biết mỏi mệt, giữ gìn của cải cho người chủ nhà không để hư mất. Đó là tình huống làm thân tôi tớ đền trả nghiệp trước, do nhận tín thí mà không tu tập. Một phần cũng do hiểu được nhân quả, nghiệp duyên đời trước, nên đành cam chịu!"

"Cũng có trường hợp đầu thai làm con để trả nợ xưa. Đây là tình huống làm con siêng năng, không chút than phiền; bao nhiêu tiền của làm việc vất vả, cha mẹ tiêu xài không biết thương tiếc, dẫn đến tình trạng khốn khó tài chính. Trường hợp cha mẹ đền trả nợ con lại dai dẳng hơn. Con cái hoang phí, ăn chơi đàng điếm, tán gia bại sản, cha mẹ thương con không thể bỏ được. Người chịu đựng được phần lớn là do hiểu được duyên nghiệp, quả báo đời trước mà đành cam chịu, không trách móc ai. Các nghiệp trả vay chỉ tồn tại trong một thời gian thôi, sau khi hết nợ thì phải chia ly, không thể chung sống một cách vĩnh viễn. Người trí hiểu biết, quyết tâm ngăn chặn, không tạo nghiệp duyên để khỏi đền trả."

"Chỉ có đạo đức tồn tại lâu dài. Trong đời quá khứ, ta đã từng làm cha mẹ, con cái, công nhân, tôi tớ. Tất cả điều trên đều do nhân duyên, phải chịu một thời, không sao trốn được. Cha mẹ của ta ở đời kiếp này là do nhân duyên đạo đức nhiều đời, chứ không phải do nhân duyên nghiệp báo. Trải qua nhiều đời, cha mẹ của ta cho ta cái quyền tự do học đạo. Nhờ công ân này, ta đã tinh tấn tu hành nhiều kiếp nên mới thành Phật ngay trong kiếp này. Ai muốn theo ta, học đạo của ta phải thật siêng năng, lo tròn chữ hiếu. Chớ có buông lung, khi mất thân người, muôn kiếp khó được."

"Trong thời mạt pháp, mọi người gắng tu hiếu thuận, hòa kính. Khi gặp chánh pháp, tinh tấn tu tập. Gặp Phật ra đời, hết lòng quy kính. Gặp bậc minh sư, hết lòng phụng thờ, chuyên cần học hỏi, thực tập, làm theo những lời giáo huấn. Làm được thân người là việc khó lớn. Thân thể lành lặn, đủ sáu giác quan là một điều phước. Thông minh, sáng suốt làm bậc tài khí của một quốc gia lại phước hơn nữa. Dù không gặp Phật, được nghe chánh pháp, gắng công thực tập lại quý hơn nữa. Nên khi còn khỏe, mọi người hãy nên hết lòng thực tập, đừng để thời gian luống trôi vô ích."

"Khi ta qua đời, sẽ có thời kỳ, đời nhiều tai ác, phạm tội ngũ nghịch, ma quái thịnh hành, chánh đạo khốn đốn; kinh pháp thì nhiều người học thì ít; dẫu có học hỏi, ít người thực hành. Về phía tôn giáo, có nhiều người tu, ít người giữ được đạo đức thanh cao. Nhiều vị tu sĩ vướng nhiễm thói đời, có nhiều tham vọng, thỏa chí du nhàn, không khác người đời, thích mặc sang trọng, đọc sách thế gian, kết tụ thành nhóm, ca múa xướng hát, thích cầu danh vọng. Cũng có tu sĩ nhận nhiều đệ tử nhưng không giáo hóa, nghiệp phàm còn nguyên. Tất cả người tu phải theo chánh đạo, hóa độ cuộc đời, nương bậc cao đức, làm chủ giác quan, xứng đáng là bậc đạo cao đức cả. Hãy nên nhớ rằng làm được thân người chỉ mấy mươi năm, nhiều nhưng không nhiều, đừng tưởng dài lâu mà không chịu tu. Bất cứ lúc nào, hễ gây tội lỗi, thì về sau này sẽ phải chịu khổ, điên đảo vô cùng, khốn đốn biết bao."

"Này các đệ tử, khi được thân người, đủ sáu giác quan, gặp được Phật pháp, học Phật tu nhân thì hãy hết lòng giữ gìn đạo đức, thực tập thiền định, phát triển trí tuệ, tu tập rốt ráo. Một khi lỡ làng đánh mất nhân cách, rất khó hồi phục, đôi lúc phải mất nhiều năm, nhiều kiếp. Gặp Phật ra đời là một đại phước. Nghe chánh pháp Phật cũng là đại phước. Thực tập lời Phật, chuyển hóa thân tâm, còn phước hơn nữa. Hãy tự suy nghĩ để đừng luống phước."

Phật vừa dứt lời, tất cả đệ tử đều được lợi lạc, phát nguyện thực tập những lời Phật dạy. Riêng người xuất gia đang ngồi thiền quán, có người chứng đắc quả A la hán.

KINH ĐỊNH LUẬT NGHIỆP

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, đức Phật ở tại tịnh xá Kỳ Viên do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà phát tâm hiến cúng, có một thanh niên tên là Subha thăm viếng, chào hỏi, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên rồi bạch Phật rằng:

"Kính bạch Thế Tôn, do vì nhân gì và duyên thế nào mà trong loài người, có gia đình giàu, có gia đình nghèo; có người giàu sang, có kẻ nghèo khó; người nhiều sở hữu, kẻ chẳng có gì; có người sống thọ, có kẻ chết yểu; có người cường tráng, có kẻ bệnh tật, có người đẹp tướng, có kẻ xấu xí; có người quyền bính, có kẻ yếu thế; có người trí tuệ, có kẻ ngu đần? Kính xin Thế Tôn từ bi chỉ dạy."

"Này các đệ tử, trong loài hữu tình, con người chính là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế gia tài của nghiệp. Nghiệp là bào thai, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Chính nghiệp phân chia thiên sai vạn biệt giữa các hữu tình cũng như loài người."

"Kính xin Thế Tôn giải thích rõ hơn những điều ngài dạy về bản chất nghiệp!"

"Này các đệ tử, nếu có người nam hoặc là người nữ giết hại tàn nhẫn, bàn tay lấm máu, thích việc đả thương bằng các vũ khí hoặc bằng dao gậy, không có từ bi đối với sự sống của các chúng sanh thì do nghiệp này, sau khi qua đời, tái sinh cõi dữ, như loài động vật. Nếu sanh làm người, sống đời yểu thọ, thường bị bệnh tật, tốn kém tiền bạc, ảnh hưởng sự nghiệp, tâm không được an, khó được hạnh phúc."

"Nếu có người nào có lòng từ bi, thương xót chúng sinh, bảo vệ mạng sống thì được trường thọ, khỏe mạnh, bình an, không bị não phiền."

"Nếu có người nam hoặc là người nữ bực tức, nóng giận, căm phẫn, chống đối, hay dễ phật lòng, thể hiện bất bình vào việc lớn nhỏ, thì do nghiệp này nhan sắc xấu đi, ảnh hưởng sức khỏe, sau khi qua đời, tái sinh cõi dữ."

"Nếu có người nam hoặc là người nữ có tâm tật đố, tỵ hiềm người khác khi người có được quyền lợi, tài sản, danh tiếng, thành công, nhan sắc, sức khỏe, được người quý trọng thì do nghiệp này, người ấy sẽ bị khổ đau dằn vặt, mất hết hạnh phúc, gặp nhiều quả xấu, lận đận bất an."

"Nếu có người nam hoặc là người nữ cung kính cúng dường các bậc chân tu các nhu yếu phẩm, nhờ đó chuyên tâm vào việc tu học, hóa độ chúng sinh thì nhờ phước này gặp nhiều thuận lợi, làm ăn phát đạt, đầy đủ tiện nghi. Nếu có người nào thực tập chia sẻ, giúp người hoạn nạn, bất hạnh, cơ nhỡ thoát cảnh khổ đau thì được hạnh phúc và nhiều phước báu."

"Nếu có người nam hoặc là người nữ có thói kiêu mạn, cho mình số một, ngạo nghễ, bất kính, không biết đảnh lễ những người đáng lạy; không biết nể trọng những người đáng nể; không biết nhường chỗ cho người đáng nhường; không biết nâng đỡ những người đáng giúp thì do nghiệp này không ai quý mến, thường bị cô lập, tâm lý cô đơn, sống trong bất hạnh; đời sau tái sinh vào cảnh giới xấu, gia đình thấp kém."

"Nếu có người nam hoặc là người nữ biết đến chùa chiền gặp người chân tu, tham vấn đạo lý, đâu là thiện ác, đâu là phạm tội và không phạm tội, điều cần thực hành và điều nên tránh; đâu là hạnh phúc và đâu khổ đau; tôi đã làm gì có ảnh hưởng xấu; tôi phải làm gì để được an vui, đời này đời sau, nhờ biết tham vấn, nên biết đạo lý, sống đời đạo đức, làm nhiều việc lành, đạt nhiều phước báu, đầy đủ trí tuệ, sống trong an vui một cách dài lâu."

"Này các đệ tử, gieo nghiệp yểu thọ thì gặt đoản thọ; gieo nghiệp sống thọ thì gặt sống lâu; gieo nghiệp khỏe mạnh thì ít bệnh tật; gieo nghiệp phước tướng thì gặt nhan sắc; gieo nghiệp địa vị thì gặt quyền lực; gieo nghiệp phú quý thì gặt tài sản; gieo nghiệp cao quý thì gặt sang trọng; gieo nghiệp mê tín thì gặt si mê; gieo nghiệp vô minh thì gặt bất hạnh. Tất cả các nghiệp, dù lớn hay nhỏ, cố ý, vô tình đều là con đường dẫn đến nghiệp quả."

"Này các đệ tử, nên nhớ lời ta. Con người chính là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế gia tài của nghiệp. Nghiệp là bào thai, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Chính nghiệp phân chia thiên sai vạn biệt giữa các hữu tình cũng như loài người."

Khi đức Phật dạy về bản chất nghiệp và quả của nghiệp, thanh niên Subha tán dương Phật rằng: "Kính lễ Thế Tôn, Người đã dựng đứng những gì bị ngã; Người đã lật ngửa những gì bị úp, Người đem ánh sáng vào trong bóng tối, để người có mặt nhìn thấy mọi vật; chánh pháp của Phật thật là vi diệu. Con xin trọn đời nhận Phật làm thầy, nhận Pháp làm thầy, nhận Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, thực tập an vui."

KINH NGHIỆP TẠO SAI BIỆT

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, Phật ở tại rừng Icchanankal, nhiều Bà la môn giàu và nổi tiếng như là Canki, Janussoni, Pokkhara sati và Tarukkha cũng cùng có mặt. Đang khi tản bộ, có hai thanh niên tên Vasettha và Bharadvaj thảo luận sôi nổi về Bà la môn.

Anh Bharadvaj có quan điểm rằng, Bà la môn là một người thuần chủng từ hai gia phả, mẫu hệ, phụ hệ, huyết thống thanh tịnh; bảy đời tổ phụ không một vết nhơ, không bị thị phi về nguồn huyết thống.

Anh Vasettha thì lại cho rằng, Bà la môn là người có giới hạnh, đạo đức thanh cao; không do huyết thống, nguồn gốc gia đình.

Do vì bất đồng quan điểm tôn giáo, họ đã không thể thuyết phục lẫn nhau. Anh Vasettha gợi ý với bạn: "Sa môn Cù Đàm là một thái tử, bỏ ngôi đi tu, thành bậc giác ngộ. Tiếng đồn sau đây được đời biết đến. Ngài là Như Lai, bậc đáng cúng dường, bậc tuệ giác lớn, bậc đủ đức trí, bậc khéo vượt đời, bậc hiểu thế gian, bậc không ai hơn, bậc điều trượng phu, bậc thầy trời người, bậc đã giác ngộ, bậc đời tôn kính. Người ở gần đây, trong rừng bên cạnh. Hãy đến hỏi người thế nào gọi là một Bà la môn? Những gì người dạy ta hãy học theo."

Cả hai đồng tình đến gặp Thế Tôn. Sau khi chào hỏi, cả hai ngồi xuống. Anh Vasettha bạch Phật lời rằng:

Cả hai người chúng con
Được mọi người tôn xưng
Là những bậc thông đạt
Cả ba kinh Vệ đà.
Văn phạm và ý nghĩa
Chúng con hiểu cặn kẽ
Thuyết giảng và giải thích
Như những bậc đạo sư.

Chúng con đang tranh luận
Ý nghĩa 'Bà la môn'
Bạn con thì cho rằng
"Do nguồn gốc gia tộc".
Con nói: "Do hành động
Mới thành Bà la môn".
Mong bậc có mắt tuệ
Như trăng sáng ngày rằm
Được mọi người kính lễ
Phân giải cho chúng con.

Thế Tôn liền giảng dạy:
Này anh Vasettha
Ta trả lời cho anh
Như thật với bản chất.
Tất cả loài hữu tình
Đa dạng và dị biệt
Do sinh sản mà ra
Không do ai phân định.

Hãy xem loài thảo mộc
Dầu không có nhận thức
Đều có tướng thọ sanh
Do sanh mà khác loại.
Bướm đêm, các loại kiến
Và tất cả côn trùng
Hay các loài bốn chân
Giống lớn hay con nhỏ
Hoặc các loài bò sát
Giống cứng hay lưng dài
Hoặc các loài thủy tộc
Hay các loại chim muông…
Do sanh mà khác loại.

Trong thế giới con người
Tướng sanh không có nhiều:
Không ở đầu, mặt, cổ
Không ở bụng, lưng, ngực
Không ở tay, chân, móng…
Mà sự sinh có mặt.
Thân thể của con người
Không có nhiều sai khác.
Theo danh xưng mặc định
Con người được gọi tên.

Ai sống nghề ruộng nương
Được gọi là nông phu.
Ai làm nghề công chức
Được gọi là công nhân.
Ai sống nghề buôn bán
Được gọi là thương gia.
Ai chuyên hầu hạ người
Được gọi là người hầu…
Ai cướp của, trộm cắp
Được gọi là đạo chích.
Ai trấn giữ biên thùy
Được gọi là chiến sĩ.
Ai chuyên lo cúng thần
Được gọi là tế quan.
Ai làm chủ quốc gia
Được gọi là vua chúa…
Không phải Bà la môn.

Ta không gọi một người
Là một Bà la môn
Chỉ vì do huyết thống
Giàu sang, nhiều thế lực.
Người nào buông chấp thủ
Không hám lợi, tiền, danh
Chuyển hóa mọi trói buộc
Tâm không còn sợ hãi
Chặt đứt mọi ách nạn
Bậc giác ngộ, sáng suốt
Ta gọi Bà la môn
Bất luận sanh từ đâu.

Ai đức hạnh thanh cao
Nhẫn nại và kiên trì
Không phẫn nộ, giữ luật
Khiêm tốn, không kiêu căng
Làm chủ các giác quan
Thân này là cuối cùng
Vượt thoát mọi khổ ách
Xứng gọi Bà la môn.

Như nước trên lá sen
Hột cải trên đỉnh nhọn
Không tham luyến dục vọng
Xứng danh Bà la môn.

Ai xa lìa hệ phược
Đặt được gánh nặng xuống
Không còn tâm chấp ngã
Xứng danh Bà la môn.

Người có trí sáng suốt
Hiểu đạo và tà đạo
Đạt được đích tối thượng
Xứng danh Bà la môn.

Người ít muốn, biết đủ
Không sát hại, đả thương
Không hận giữa hận thù
An bình giữa hung bạo
Tự tại giữa chấp thủ
Chuyển hóa tham, sân, si
Không cao ngạo, giấu lỗi
Xứng danh Bà la môn.

Ai nói lời chân thực
Nhỏ nhẹ và từ ái
Không xúc chạm một ai
Không lấy vật không cho
Từ bỏ các tham cầu
Đời này và đời sau
Dứt sạch mọi hệ lụy
Xứng danh Bà la môn.

Ai dứt sạch nghi hoặc
Không còn chấp dính gì
Đạt được sự bất tử
Vượt lên trên thiện, ác
Không sầu, không nhiễm uế
Đoạn trừ sạch hỷ, hữu
Vượt qua được luân hồi
Xứng danh Bà la môn.

Ai đến được bờ kia
Thiền định, không dao động
Chuyển hóa các nghi hoặc
An tịnh, không vướng mắc
Buông bỏ các dục vọng
Sống đời tu thanh cao
Không còn vướng tái sinh
Xứng danh Bà la môn.

Ai bỏ ách loài người
Vượt qua ách loài trời
Dứt sạch các ách nạn
Không còn hệ phược nào
Từ bỏ vui, không vui
Không vướng vào thanh lương
Chiến thắng các thế giới
Xứng danh Bà la môn.

Ai biết được nguồn gốc
Sanh diệt của chúng sanh
Không vướng, khéo vượt qua
Giác ngộ, buông chấp thủ
Dứt sạch các lậu hoặc
Không vướng dính ba đời
Đạt quả thánh đáng kính
Xứng danh Bà la môn.

Như trâu chúa số một
Bậc anh hùng, đại sĩ
Bậc chinh phục, bất động
Bậc Giác ngộ, sạch nghiệp
Bậc thông hiểu ba đời
Bậc biết cõi thiện, ác
Bậc không còn luân hồi
Xứng danh Bà la môn.

Tất cả các danh xưng
Từ huyết thống, gia tộc
Chỉ là tên mặc định
Do chấp chặt lâu đời.
Kẻ ngu vướng tà kiến
Tuyên bố điều không thật
Phân giai cấp cao thấp
Gieo bất hạnh, đau thương.
Không thể dựa vào cớ
Huyết thống và họ tộc
Mà gọi Bà la môn
Hay gọi là vua chúa.

Chính do các hành động
Mà các nghề có mặt
Danh xưng từ đó có
Như mặc định xã hội.
Tất cả do hành động
Có người làm nông phu
Công nhân hoặc thương gia
Nô bộc hay ăn trộm
Binh sĩ hay tế quan
Vua chúa hay tướng lĩnh
Hành động tạo nghề nghiệp
Hạnh phúc hoặc khổ đau.

Kẻ trí rõ hành vi
Thấu hiểu lý tương tác
Biết nghiệp và nghiệp quả
Do nghiệp, đời chuyển xoay
Do nghiệp, có luân hồi.
Nghiệp trói buộc mọi loài
Như trục xe quay bánh
Không ai thoát luật nghiệp.

Người tu luyện đạo đức
Gắng viên tròn hạnh thánh
Tiết chế, chủ thân tâm
Mới xứng Bà la môn.
Lão thông Tam tạng kinh
Thanh tịnh, dứt tái sanh
Người đó được trời người
Cung kính và đảnh lễ.

Nghe Phật phân tích nghĩa và triết lý về Bà la môn, anh Vasettha và Bharadvaj đều được soi sáng, cung kính bạch Phật: "Kính lễ Thế Tôn, Người đã dựng đứng những gì bị ngã; Người đã lật ngửa những gì bị úp, Người đem ánh sáng vào trong bóng tối, để người có mặt nhìn thấy mọi vật; chánh pháp của Phật thật là vi diệu. Con xin trọn đời nhận Phật làm thầy, nhận Pháp làm thầy, nhận Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, thực tập an vui."

KINH PHƯỚC THẾ GIAN

Tôi nghe như vầy. Có một thuở nọ, đức Phật du hóa tại Kosambi, vườn Ghosita. Một buổi chiều nọ, có vị tôn giả MahaCunda, sau khi xuất thiền, đi đến chỗ Phật, cung kính đảnh lễ, ngồi xuống một bên, thỉnh Phật giảng dạy về hai loại phước, phước báo thế gian, phước xuất thế gian. Nhân đó, đức Phật đã dạy như sau:

"Này các đệ tử, có bốn loại phước thuộc về thế gian, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn, mang lại hạnh phúc, đời này đời sau. Một là có người phát tâm hiến cúng Tăng xá, phòng xá cho các tu sĩ. Hai là phát tâm cúng dường giường nằm, tọa cụ, ngọa cụ, đệm lông, thảm dệt, chăn len, vật dụng. Ba là phát tâm cúng dường y hậu, ca sa mới đẹp. Bốn là phát tâm cúng dường trai phạn sáng và bữa trưa, giúp cho Tăng Ni an tâm tu học, an lạc ngày đêm."

"Này các đệ tử, khi gieo giống phước trên ruộng lúa tốt của người xuất gia, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đức đã gieo ngày càng tăng trưởng, càng lúc càng rộng. Cũng như sông Hằng từ nguồn chảy ra, nhập vào biển lớn, càng lúc càng sâu, càng lúc càng rộng."

"Này các đệ tử, có bốn loại phước thuộc xuất thế gian, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. Một là hoan hỷ về sự có mặt của các thánh nhân. Hai là nghe tin Như Lai và các vị đệ tử thánh đang trú nơi nào, liền sinh hoan hỷ, phấn khởi trong lòng. Ba là nghe biết Như Lai và các vị đệ tử thánh, du hành giáo hóa, rày đây mai đó, sinh lòng hoan hỷ. Bốn là khi biết Như Lai và các vị đệ tử thánh cư trú chỗ nào, liền đến đảnh lễ, quy y Tam Bảo, học hỏi chánh pháp, giữ gìn đạo đức, để sống an vui."

"Này các đệ tử, nếu có người nào thành tựu đầy đủ các phước thế gian, phước xuất thế gian, thì công đức lớn không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn. Cũng như năm sông tuôn về biển cả, gặp nhau ở biển, khoảng giữa của chúng, nước nhiều vô số, không thể đong đếm, không thể hạn lượng, không thể biết hơn. Năm sông lớn đó bao gồm sông Hằng, sông Yamuna, sông Sarabhu, sông Mahi lớn và sông Aciravati lớn."

Phật vừa dứt lời, tất cả mọi người vô cùng hoan hỷ, phát nguyện thọ trì, truyền bá kinh này.

KINH SOI GƯƠNG NHÂN CÁCH

Tôi nghe như vầy, có một thuở nọ, ngài Mục Kiền Liên đang sống với người thuộc dòng Bhagga trong vườn Lộc Uyển, rừng Bhesakala. Có một hôm nọ, ngài Mục Kiền Liên gọi các Tỳ kheo và dạy như sau:

"Thưa các hiền giả, nếu có Tỳ kheo muốn thỉnh nguyện rằng: ‘Mong các tôn giả góp ý cho tôi, mong rằng tôi được các vị chỉ giáo.’ Nhưng nếu vị ấy là người khó nói, hoặc đủ tính cách trở nên khó nói, không có kham nhẫn, không chịu đón nhận với lòng trân trọng những điều được dạy thì những đồng tu sẽ suy nghĩ rằng vị Tỳ kheo ấy không đáng nói đến, nói chi giáo huấn và đặt lòng tin."

"Thưa các hiền giả, bất kỳ người nào bị sự chi phối của các tính cách ác dục, phẫn nộ, khen mình chê người, sẽ trở thành người rất là khó nói. Khi bị tâm lý phẫn nộ chi phối, các tính cách sau lần lượt xuất hiện: hiềm hận, cố chấp, thốt lời dễ ghét, chống đối, chỉ trích, chất vấn lại người đã góp ý mình; có tâm lẩn tránh, trả lời ngoài lề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn; không chịu giải trình hành động của mình cho người hiểu rõ; hư ngụy, não hại; tật đố, xan tham; dối gian, lường gạt; ngoan mê, quá mạn; dính mắc thế tục, cố chấp tư kiến, không chịu buông xả. Các tâm lý trên chính là tính cách làm cho một người trở nên khó nói. Nếu ai diệt trừ các tính cách ấy sẽ trở thành người có thể góp ý."

"Thưa các hiền giả, để dứt trừ được các tính cách xấu, hành giả cần phải tâm niệm chính mình bằng sự so sánh với những người khác: Ta không thích người bị tâm ác dục chi phối, hoành hành. Nếu tâm ta bị ác dục chi phối, chắc chắn người khác sẽ không thích ta. Khi biết như vậy hành giả cần phải nêu quyết tâm sau: Ta sẽ không bị ác dục chi phối."

"Tương tự như vậy, hành giả thực tập tâm niệm bản thân bằng sự so sánh với những người khác, biết rõ được rằng khi người khác có các tính cách xấu, ta không thích họ, thì khi ta có các tính xấu ấy, người khác cũng sẽ không quý mến ta. Nhờ vậy quyết tâm từ bỏ tánh xấu: Ta sẽ không bị các tính cách xấu tác động chi phối như là phẫn nộ, khen mình chê người, hiềm hận, cố chấp, thốt lời dễ ghét, chống đối, chỉ trích, chất vấn lại người đã góp ý mình; có tâm lẩn tránh, trả lời ngoài lề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn; không chịu giải trình hành động của mình cho người hiểu rõ; hư ngụy, não hại; tật đố, xan tham; dối gian, lường gạt; ngoan mê, quá mạn; dính mắc thế tục, cố chấp tư kiến, không chịu buông xả."

"Này các hiền giả, cần phải quán sát bản thân như sau: Ta còn ác dục, bị các ác dục chi phối hay không? Sau khi quán sát, biết rõ ràng rằng: Ta còn ác dục, bị các ác dục tác động chi phối thì hành giả đó hết lòng tinh tấn dứt trừ các ác và pháp bất thiện. Nếu khi quán sát biết rõ ràng rằng ta không còn dục, không bị ác dục dắt dẫn chi phối, thì hành giả đó khởi tâm hoan hỷ, ngày đêm tinh chuyên thực hành pháp lành. Tương tự như vậy, hành giả áp dụng quán sát tất cả tâm lý còn lại."

"Giống như trường hợp, có một thiếu nữ, đương tuổi thanh xuân, tánh ưa trang điểm, tự quán sát mặt trong một tấm kiếng sạch và trong suốt, hay một bát nước không có cáu bẩn. Khi thấy bụi bặm bám trên mặt mình, người ấy tinh tấn chùi sạch bụi bặm và vết nhơ bẩn. Nếu mặt không dơ, người ấy hoan hỷ và tâm niệm rằng: Thật sự ta được những điều tốt đẹp; thật sự ta được gương mặt trong sạch."

Khi nghe tôn giả Đại Mục Kiền Liên thuyết giảng như vậy, tất cả Tỳ kheo và người có mặt đều rất hoan hỷ, phát tâm thọ trì, truyền bá kinh này.

KINH CHUYỂN HÓA NGHIỆP CHƯỚNG

Tôi nghe như vầy. Khi Đức Thế Tôn sống tại Kỳ Viên, nước Kosala dưới sự trị vì của Ba Tư Nặc bị nạn cướp giết của tên khủng bố Vòng Hoa Tay Người, thợ săn vấy máu, sát hại, hung tàn, không chút tình thương đối với con người. Vì nạn giết hại của tên khủng bố, làng ấp tan hoang, thị trấn tan rã, xã hội bất ổn. Tên khủng bố này thường mang vòng hoa kết ngón tay người. Mỗi khi giết ai, vòng hoa ngón tay tăng thêm một ngón.

Một buổi sáng nọ, Thế Tôn đắp y, cầm bát vào thành Xá Vệ khất thực. Trên đường trở về, Thế Tôn đi vào con đường đến chỗ của tên khủng bố. Những người nông phu, những kẻ bộ hành, những người chăn thú thấy vậy thưa Phật: "Thưa ngài Sa môn, đừng vào đường này. Kẻ khủng bố tên Vòng Hoa Tay Người luôn giết hại người. Nhiều đoàn bộ hành, mười người, hai mươi, thậm chí bốn mươi vẫn không thoát khỏi." Nhiều lần ngăn cản, mọi người vẫn không cản ngăn được Phật. Thế Tôn mặc nhiên đi trong im lặng, đến căn cứ địa của tên khủng bố.

Thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới, hắn mừng thầm nghĩ: "Có những đoàn người đến bốn chục người không thoát khỏi ta. Nay Sa môn này, một mình một bóng, có sức mạnh gì, đến đây nạp mạng!"

Vòng Hoa Tay Người lấy kiếm và khiên, đeo cung tên vào, đi sau lưng Phật. Lúc ấy Đức Phật vận dụng thần thông, làm tên khủng bố đi với tốc lực cũng không đuổi kịp ngài đi bình thường. Vòng Hoa Tay Người ngạc nhiên suy nghĩ: "Thật là kỳ lạ, thật là hiếm có! Trước đây ta từng đuổi theo voi, ngựa, nai và đoàn xe chạy với tốc độ, bắt kịp được chúng. Nay ta không thể đuổi kịp Sa môn đang đi bình thường?!"

Vòng Hoa Tay Người đề nghị Thế Tôn: "Này ông Sa môn, xin hãy đứng lại!" Đức Phật trả lời: "Hỡi này anh bạn, ta đã dừng rồi, sao bạn vẫn còn chưa chịu dừng lại."

Vòng Hoa Tay Người thầm suy nghĩ rằng Sa môn là người tuyên nói sự thật, chấp nhận sự thật. Vô cùng ngạc nhiên, hắn hỏi Đức Phật:

Trong lúc ngài đang đi,
Sao bảo "đã đứng rồi?"
Còn ta đã dừng hẳn
Sao ngài bảo ta đi?
Tại sao người đứng lại
Tại sao ta không đứng?

Thế Tôn ôn tồn, giải rõ triết lý:

Này Vòng Hoa Tay Người
Ta đã bỏ vũ khí
Với người và chúng sinh.
Còn ngươi không kiềm chế
Tay vấy máu hại người.
Vì thế, ta đã dừng
Trong khi ngươi chưa dừng.

Vòng Hoa Tay Người thay đổi thái độ, bạch Phật lời rằng:

Từ lâu tôi tôn kính
Những bậc đại tiên nhân
Nay ngài đến đại lâm
Hỗ trợ tôi dứt ác.

Sau khi nghe pháp của Đức Phật nói, tên khủng bố ấy quăng bỏ dao kiếm xuống vực thẳm sâu. Hướng đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, bộc bạch chân thành, xin được xuất gia với bậc Từ bi, bậc đại tiên nhân, đạo sư trời người. Đức Phật đã gọi: "Lại đây Tỳ kheo." Được Phật xác chứng, Vòng Hoa Tay Người được ngài thế phát.

Sau đó Thế Tôn tuần tự du hành đến thành Xá Vệ. Đi sau Phật là Vòng Hoa Tay Người. Thầy trò trú tại tu viện Kỳ Viên. Vào thời điểm đó, tại cửa nội cung nước Kosala của Ba Tư Nặc, một số quần chúng, tụ hội lớn tiếng, vang vọng lời rằng: "Kính tâu đại vương, trong lãnh thổ ta có tên khủng bố Vòng Hoa Tay Người, giết người tàn bạo, không chút lương tâm đối với người khác. Mỗi khi giết người, hắn xâu ngón tay của các nạn nhân đeo trên cổ hắn. Xin ngài trục xuất tên khủng bố đó."

Khi được chỉ điểm, vua Ba Tư Nặc cùng đoàn tùy tùng khoảng năm trăm người, đi ngựa rời thành, hướng chùa Kỳ Viên. Đi đến một chỗ không đi xe được, nhà vua xuống xe, đi bộ viếng Phật, lạy, ngồi một bên, thưa Đức Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, trong lãnh thổ con, có tên khủng bố Vòng Hoa Tay Người, vấy máu sát hại biết bao nhiêu người, không chút tình thương. Vậy mà đến nay, con vẫn chưa thể trục xuất hắn được."

Đức Phật liền hỏi: "Kính thưa Đại vương, nếu ngài nhìn thấy Vòng Hoa Tay Người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống đời xuất gia, từ bỏ giết hại, từ bỏ cướp giật, lừa đảo, nói láo, ngày ăn một bữa, sống đời thanh cao, giữ đủ giới đức, thực tập thiện pháp, ngài sẽ làm gì với người như thế?"

"Bạch Đức Thế Tôn, nếu quả như thế, con sẽ đảnh lễ, đứng dậy, mời ngồi, cúng dường nhu phẩm. Chúng con hộ trì, bảo vệ đúng pháp. Nhưng bạch Thế Tôn, do nhân duyên gì một người ác tâm, gây nhiều tội lỗi, trở nên đạo đức, chế ngự bản thân?"

Bấy giờ tôn giả Vòng Hoa Tay Người ngồi gần Đức Phật. Phật duỗi tay mặt chỉ vào tôn giả, nói với vua rằng: "Kính thưa Đại vương, đây chính là thầy Vòng Hoa Tay Người."

Vua Ba Tư Nặc trở nên hoảng sợ, lông tóc dựng ngược. Phật khuyên vua rằng: "Kính thưa Đại vương, xin đừng sợ hãi. Ở đây bình an, không có điều gì để đáng sợ hãi."

Nghe Đức Phật nói, vua không còn sợ, đến gần tôn giả Vòng Hoa Tay Người, vấn tấn thưa hỏi: "Kính thưa Tôn giả, cha mẹ tôn giả thuộc dòng họ gì?" Tôn giả trả lời: "Thân phụ của tôi thuộc họ Gagga. Còn mẹ của tôi họ Mantani." Vua mới thưa rằng: "Xin ngài Gagga Mantani tử hãy sống hoan hỷ. Tôi sẽ cung phụng tứ sự cúng dường, y phục, ăn uống, sàng tọa, dược liệu cho ngài sử dụng."

Vì tu theo hạnh ẩn tu rừng núi, khất thực mà ăn, chỉ dùng ba y, Vòng Hoa Tay Người thưa đức vua rằng: "Cảm tạ đại vương, tôi đủ ba y."

Đến bên cạnh Phật, ngồi xuống một bên, vua Ba Tư Nặc bạch với ngài rằng: "Thật là mầu nhiệm, thật là hiếm có. Thế Tôn nhiếp phục người khó nhiếp phục, giúp cho an tịnh người không an tịnh, làm cho thiện hóa người sống ác độc! Đối với những người, luật pháp nước trẫm không thể nhiếp phục bằng các hình phạt với gậy và kiếm, Thế Tôn có thể nhiếp phục dễ dàng, không cần đao trượng. Xin đa tạ Người. Chúng con phải đi, vì có nhiều việc đang chờ đợi con."

Vua và Đức Phật giã từ lẫn nhau. Vào sáng hôm sau, Vòng Hoa Tay Người đắp y cầm bát, vào thành Xá Vệ khất thực đúng pháp. Tôn giả thấy một phụ nữ gần sanh, đau đớn, nguy kịch. Tôn giả suy nghĩ: "Thân phận con người chứa nhiều đau khổ." Bất lực trở về, tôn giả thưa Phật đầu đuôi câu chuyện.

Đức Phật dạy rằng: "Con hãy trở lại nói với người ấy: Bà chị thân mến, từ khi sanh ra trong đời sống thánh, tôi chưa cố ý giết hại mạng sống của các chúng sanh. Với sự thật này, tôi ước mong rằng mẹ tròn con vuông."

Vâng lời Phật dạy, Vòng Hoa Tay Người đến bên người ấy chúc phúc hỗ trợ. Nhờ đó bà mẹ khai hoa nở nhụy, bình an vô sự.

Sau đó tôn giả Vòng Hoa Tay Người sống hạnh viễn ly, tinh tấn tu tập, không bao lâu sau, chứng được thắng trí, an trú phạm hạnh vô thượng cứu cánh ngay trong hiện tại. Tôn giả trở thành vị A la hán tái sanh đã hết, hạnh thánh đã thành, những việc nên làm đều đã làm xong, từ nay không còn trở lại sanh tử.

Buổi sáng hôm sau, tôn giả đắp y, cầm bát trang nghiêm vào thành khất thực. Nhìn thấy tôn giả, có người ném đất, có người quăng gậy, có người chọi đá vào người tôn giả. Bình bát tôn giả bể thành mảnh vụn, y ngoài bị rách, đầu của tôn giả sưng trầy, chảy máu. Tôn giả trở về gặp Đức Thế Tôn.

Thế Tôn dạy rằng: "Hãy tập kham nhẫn, vị tu sĩ trẻ. Con đang gặt hái quả báo hiện tiền của những nghiệp xấu mà đáng lẽ ra con phải gánh chịu trong nhiều trăm năm, hay nhiều ngàn năm."

Lúc ấy tôn giả Vòng Hoa Tay Người một mình thiền định, cảm nhận sâu sắc hạnh phúc giải thoát, nói lời cảm hứng thi kệ như sau:

Ai trước sống buông lung
Nay làm mới hoàn toàn
Sẽ chói sáng đời này
Như trăng thoát mây che.
Ai làm các nghiệp lành
Ngăn chặn quả ác nghiệp
Sẽ chói sáng đời này
Như trăng thoát mây che.
Các Tỳ kheo trẻ tuổi
Trung thành lý tưởng Phật
Sẽ chói sáng đời này
Như trăng thoát mây che.

Mong kẻ thù địch ta
Nghe được lời pháp thoại
Trung thành lý tưởng Phật
Tiếp nhận, sống chánh pháp
Thân tâm được an tịnh
Chia sẻ cho nhiều người.
Mong kẻ thù nghịch ta
Nghe pháp, hành trì pháp
Từ bậc thầy dạy nhẫn
Từ bậc tán thán nhẫn
Bậc không còn oán hận
Sẽ không còn hận thù
Không hại mình, hại người.

Người hành trì như thế
Chứng tịch tịnh số một
Hộ trì khắp quần sanh
Không phân biệt đối xử
Như người làm thủy lợi
Dẫn nước đến nơi cần
Như người làm cung tên
Uốn luyện cong cung tên
Như người thợ mộc giỏi
Uốn nắn các cây gỗ
Bậc trí tự điều phục
Không cần gậy, kiếm, móc.

Trước ta từng sát hại,
Nay ta tên Vô Hại
Chánh danh nay đã được
Vì không hại cuộc đời.
Trước ta bị thác cuốn
Nay ta quy y Phật
Trước tay ta vấy máu
Nay vẫy chào sanh tử.

Những kẻ tạo nghiệp ác
Sẽ tái sanh cõi ác.
Khi gặt hái nghiệp báo
Không nợ ta phải hưởng.
Kẻ ngu si, vô trí
Đam mê theo phóng dật.
Người có trí thông minh
Không chạy theo phóng dật
Như giữ tài sản quý.
Chớ đam mê phóng dật
Chớ đam mê dục lạc.
Thiền định, không phóng dật
Được đại lạc vô lượng.
Ta đi không lạc hướng
Không ai xúi tưởng ác.
Giữa các chân lý giảng
Ta theo chân lý Phật
Chân lý tối thượng nhất.
Ta chứng ba tuệ giác
Phật đạo được viên thành.