南無救苦觀世音菩薩,百千萬億佛,恒河沙數佛,無量功德佛。
佛告阿難言,此經大聖,能救獄囚,能救重病,能救千災百難苦。若有人,誦得一千遍,一身離苦難,誦得一萬遍,合家離苦難。
南無佛力威,南無佛力護,使人無惡心,令人身得度。回光菩薩,回善菩薩,阿耨大天王,正殿菩薩,摩邱摩邱,清淨比邱,官事得散,私事得休。
諸大菩薩,五百羅漢,救護弟子身,悉皆離苦難。自然觀世音纓絡不須解,勤誦千萬遍,災難自然得解脫。
信受奉行。即說真言曰:
今菩今菩提 陀羅尼帝
尼佉羅帝 菩提薩婆訶
Nam mô cứu khổ Quan Thế Âm Bồ tát, bách thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật.
Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh đại thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu thiên tai bách nạn khổ. Nhược hữu nhân, tụng đắc nhất thiên biến, nhất thân ly khổ nạn, tụng đắc nhất vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.
Nam mô Phật lực uy, nam mô Phật lực hộ, sử nhân vô ác tâm, lịnh nhân thân đắc độ. Hồi Quang Bồ tát, Hồi Thiện Bồ tát, A Nậu đại thiên vương, Chánh Điện Bồ tát, ma kheo ma kheo, thanh tịnh Tỳ kheo, quan sự đắc tán, tư sự đắc hưu.
Chư đại Bồ tát, ngũ bách La hán, cứu hộ đệ tử thân, tất giai ly khổ nạn. Tự nhiên Quan Thế Âm anh lạc bất tu giải, cần tụng thiên vạn biến, tai nạn tự nhiên đắc giải thoát.
Tín thọ phụng hành. Tức thuyết chân ngôn viết:
KIM BỒ KIM BỒ ĐỀ, ĐÀ LA NI ĐẾ
NI KHƯ LA ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT BÀ HA.
Bồ tát Quan Thế Âm là vị đại sĩ quán sát, lắng nghe âm thanh của cuộc đời, "soi thấy bằng ngàn mắt và nắm giữ bằng ngàn tay", sẵn sàng cứu khổ chúng sinh: "ngàn nơi cầu nguyện ngàn nơi ứng, biển khổ thuyền dong cứu độ người". Bồ tát Quan Thế Âm xuất hiện rất nhiều trong hầu hết kinh điển đại thừa, ngài tượng trưng cho đức tính từ bi qua thần lực cứu độ chúng sinh đang đau khổ và phương tiện lực dẫn dắt chúng sinh đi đến giải thoát.
Thánh là khái niệm đối lập với phàm tục. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chủ trương đả phá bốn giai cấp đương thời (sát đế lợi, bà la môn, phệ xá và thủ đà la), vì thế những người gia nhập tăng đoàn là Thích tử bình đẳng, không y cứ vào gia thế, tư cách, tài sản, lấy chánh đạo làm thánh. Người tìm cầu và thực hành chánh đạo đều gọi là thánh. Sự xuất gia cầu đạo của đức Phật Thích Ca gọi là thánh cầu. Bát chánh đạo còn gọi là bát thánh đạo, tức tám con đường thánh đưa đến niết bàn. Tứ diệu đế, bốn chân lý chắc thật, còn gọi là tứ thánh đế, bốn chân lý của bậc thánh. Chữ thánh trong kinh này hiểu là chân chánh, vi diệu, mầu nhiệm, cao cả.
Bồ tát gọi đủ là bồ đề tát đỏa, chỉ cho người tu hành mà trên thì cầu thành Phật bằng trí tuệ, dưới thì hóa độ chúng sinh bằng từ bi, là người có đủ hai hạnh: lợi mình lợi người và dũng mãnh cầu Phật quả. Bồ tát Hồi Quang là Bồ tát Soi chiếu lại tâm mình. Bồ tát Hồi Thiện là Bồ tát Trở về tánh thiện vốn có của mình.
Đại thiên vương A Nậu, còn gọi là A Nậu Quan Âm, tức một trong 33 ứng thân của Bồ tát Quan Thế Âm, là hình tượng vị Bồ tát ngồi trên gộp đá nhìn ra biển. Như kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn ghi: "Hoặc trôi dạt biển lớn, gặp nạn quỷ cá rồng, nhờ thần lực Quan Âm, sóng dữ không chìm đặng". Vì biển cả và cá rồng có nhân duyên với ao A Nậu Đạt nên Bồ tát Quan Âm mới có danh xưng như vậy.
Bồ tát Chánh Điện là Bồ tát Cung điện của chánh pháp, lấy ý nghĩa bản thân là cung điện phụng thờ chánh pháp của Phật.
Tỳ kheo có nghĩa là thành tựu trọn vẹn, Trung Hoa dịch là cận viên (gần tới viên tịch: niết bàn) hay bước lên chỗ cao. Tỳ kheo là vị được tôn cao trong các chúng khác (chúng trung tôn), là vị cụ túc giới pháp (250 giới điều) và oai nghi (không có những cử động bất xứng). Theo luận Đại trí độ, Tỳ kheo có năm nghĩa: khất sĩ, phá phiền não (phá ác), ra khỏi nhà thế tục (xuất gia), trì giới thanh tịnh và làm ma quân sợ hãi (bố ma). Trong đó, phá ác, bố ma và khất sĩ được gọi là Tỳ kheo tam nghĩa. Ma kheo, ma kheo, thanh tịnh Tỳ kheo được dịch là các bậc Tỳ kheo thanh tịnh, bố ma và phá ác. Thanh tịnh Tỳ kheo là Tỳ kheo giữ giới thanh tịnh. Ma kheo trước là Tỳ kheo bố ma. Ma kheo sau là Tỳ kheo phá ác. Ác là phiền não, mà phiền não cũng thuộc ma quân, tức mọi sự ác nghiệt, trở ngại và phá hoại Phật, Phật pháp và người hành trì Phật pháp.
Ngũ bách La hán chỉ cho 500 vị Thanh văn đã chứng quả vô học. Trong bốn quả thánh: Tu đà hoàn, Tu đà hàm, A na hàm và A la hán, thì từ quả A na hàm trở xuống gọi là bậc hữu học vì chưa được giải thoát hoàn toàn, còn phải học tập, trong khi quả A la hán đã được giải thoát hoàn toàn, không còn phải học nữa nên gọi là bậc vô học. Ngũ bách La hán được nhắc đến trong kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi và kinh Pháp Hoa phẩm Ngũ bách đệ tử thọ ký. Sau khi đức Phật diệt độ, tôn giả Đại Ca Diếp từng cùng với 500 vị La hán kết tập pháp tạng ở thành Vương Xá. Ở Trung Hoa, việc sùng bái 500 vị La hán rất thịnh hành. Hiện nay, ở Việt Nam, chùa Bái Đính - Ninh Bình và chùa Minh Thành – Pleiku có tôn tạo và thờ phụng 500 vị La hán.
Anh lạc chỉ cho xâu chuỗi ngọc quý mà người Ấn Độ ngày xưa thường đeo mang làm trang sức. Chữ anh lạc trong chánh văn có bộ mịch, đôi khi đồng nghĩa với chữ anh lạc có bộ ngọc. Vì là dịch âm nên dùng bộ mịch hay bộ ngọc đều được cả. Trong đạo Phật, chuỗi anh lạc được ví như giới luật để trang nghiêm pháp thân. Sự kiện chuỗi anh lạc của Bồ tát Quan Thế Âm phân ra là theo phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa: Sau khi nghe đức Phật tán thán thần lực và phương tiện lực của Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Vô Tận Ý liền cởi xâu chuỗi anh lạc bằng các thứ châu báu đeo nơi cổ, giá trị bằng trăm ngàn lượng vàng mà dâng cúng cho Bồ tát Quan Thế Âm. Bồ tát Quan Thế Âm nhận rồi phân ra làm hai phần, một phần hiến cúng đức Phật Thích Ca và một phần hiến cúng tháp Phật Đa Bảo. Với thần lực của Bồ tát Quan Thế Âm thì sự phân chia chuỗi ngọc không có chút gì nhọc công, cầm trên tay một xâu, tự nhiên biến thành hai xâu ngắn hơn. Người trì tụng kinh Cứu Khổ hay thần chú Cứu Khổ sẽ được thoát khỏi khổ nạn một cách tự nhiên, đó không phải là nhờ thần lực gia hộ của Bồ tát Quan Thế Âm hay sao?
Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng, kinh này rất là cao cả, có thể cứu thoát ngục tù, có thể cứu chữa bịnh nặng, có thể cứu vớt trăm tai nạn ngàn khổ ách. Nếu có người tụng kinh này được một ngàn lần thì bản thân lìa khổ nạn, tụng được một muôn lần thì cả nhà lìa khổ nạn. Như xâu chuỗi anh lạc của Bồ tát Quan Thế Âm tự nhiên phân rời ra, người nào siêng năng tụng ngàn muôn lần kinh này thì các tai nạn tự nhiên được cởi bỏ, thoát khỏi.
Đại chúng nghe lời Phật dạy, tin tưởng, tiếp nhận và vâng làm, Bồ tát Quan Thế Âm liền nói thần chú rằng:
KIM BỒ KIM BỒ ĐỀ, ĐÀ LA NI ĐẾ
NI KHƯ LA ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT BÀ HA.
Kính lạy Bồ tát Quan Thế Âm, bậc đại sĩ cứu khổ.
Kính lạy trăm ngàn muôn ức đức Phật, hằng hà sa số đức Phật, những bậc toàn giác có vô lượng công đức.
Con xin quay về nương tựa sức oai thần của Phật, quay về nương tựa sức gia hộ của Phật, khiến cho mọi người không sanh tâm ác độc, làm cho mọi người và bản thân được Phật cứu độ.
Con xin quay về nương tựa Bồ tát Hồi Quang, Bồ tát Hồi Thiện, đại thiên vương A Nậu, Bồ tát Chánh Điện, các bậc Tỳ kheo thanh tịnh, bố ma và phá ác, thì việc cửa quan được tan biến, việc không chính đáng được ngưng dứt.
Cúi xin chư vị đại Bồ tát, năm trăm vị La hán cứu hộ bản thân đệ tử (cùng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp, chúng sanh trong khắp sáu đường) thảy đều lìa khổ nạn.
Phàm có cảm thì đều thông, nên cầu gì mà chẳng ứng. Khi gặp bất cứ hoạn nạn, khổ đau nào chúng ta có thể thầm niệm ngắn gọn, như một câu thần chú, như sau:
Nam mô Phật đà da, nam mô Đạt ma da, nam mô Tăng già da, nam mô Quan Thế Âm Bồ tát ma ha tát, dịch bịnh tiêu trừ, (có thể đổi lời cầu xin) ta bà ha.
Đây là trích trong kinh Phật thuyết đoạn ôn (Tục tạng, quyển 1, số 19), kinh kể về việc thành Vương Xá bị ôn dịch, người chết vô số, tôn giả A Nan thỉnh Phật dạy phương pháp cứu tế, đức Phật dạy đọc lời nguyện như trên, thế là ôn dịch đẩy lui.
Con về nương tựa Phật, bậc giác ngộ đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, chúng nguyện sống một cuộc đời ly nhiễm và tỉnh thức.
Con về nương tựa Bồ tát Quan Thế Âm, vị đại sĩ nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết yếu tố tội ác, làm cho con phát khởi và thực hành hạnh từ bi.
Con tên là _____ , pháp danh _____ , cầu cho bản thân, quyến thuộc, chúng sinh, tất cả cùng được _____ , ta bà ha.
Ngưỡng nguyện đức đại bi Quan Thế Âm cùng Phật Pháp Tăng, vô thượng Tam bảo, mật thùy chứng minh gia hộ.
Xin tin tưởng và cầu nguyện theo biểu tượng của kinh văn mà đức Phật đã nói.
Sáng niệm Quan Thế Âm, chiều niệm Quan Thế Âm, niệm niệm theo tâm khởi, niệm Phật chẳng rời tâm.