Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phưởng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
☸ Nam mô Hương Cúng Dường Bồ tát
Chúng con một dạ chí thành,
Cúng dường trì tụng hồng danh các ngài.
Nguyện khắp cả ba ngôi Tam Bảo,
Đức Bổn sư Từ phụ Thích Ca,
Lạc bang Giáo chủ Di Đà,
Cùng là Bồ tát các vì Thánh Tăng,
Hiệp ba cõi mười phương Tăng chúng,
Đồng phóng quang tiếp độ hương linh,
Cửu huyền Thất tổ siêu thăng,
Cha mẹ hiện thế phước tăng thọ trường,
Khắp chúng sanh rõ đường đạo đức,
Thoát muội mê chứng bậc quang minh.
Ngưỡng mong đức cả oai linh,
Từ bi thương xót chứng minh hộ trì.
☸ Nam mô Thập phương Thường trụ Tam Bảo
tác đại chứng minh
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài.
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.
☸ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông khó thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sang ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin phát nguyện quy y.
☸ Chí tâm đảnh lễ Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Thường trụ Tam Bảo.
☸ Chí tâm đảnh lễ Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ tát.
☸ Chí tâm đảnh lễ Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát.
Lò hương vừa bén chiên đàn
Tỏa xông pháp giới đạo tràng mười phương
Hiện thành mây báu cát tường
Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiềng.
Pháp thân toàn thể hiện tiền
Chứng minh hương nguyện phước lành rưới ban.
☸ Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa.
☸ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ta nghe như vầy, lúc bấy giờ Phật ở tại thành Tỳ Gia Ly Ðạt Mạ khai hội thuyết pháp. Có tịnh tín nam nữ, mười phương đàn việt đều tụ hội nghe pháp, bốn chúng đều vây quanh đầy đủ.
Khi ấy ông Vô Ngại Bồ tát ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay trước Phật mà bạch như vầy: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn, chúng sanh ở trong cõi Nam Diêm Phù Ðề nầy, thay đổi sanh sản nhau, từ đời vô thủy đến nay, tiếp nối hoài không dứt. Nhưng mà trong nhân loại ấy, xem lại cho kỹ, thì hạng người có học ít quá, còn người vô tri thì nhiều; người tu hành niệm Phật thì ít, hạng mê tín cầu lạy tà thần giả quỷ thì nhiều; người tu niệm trì trai giữ giới thì ít, chúng lợi dưỡng phá giới huỷ luật thì nhiều; bậc tinh tấn tu hành thì ít, người biếng nhác giải đãi thì nhiều; bậc thông minh trí tuệ thì ít, đứa ngu si độn trược thì nhiều; kẻ trường thọ trăm năm thì ít, chúng đoản mạng yểu vong thì nhiều; người tĩnh tâm thiền định thì ít, kẻ tán loạn náo động thì nhiều; phần giàu sang no ấm thì ít, chúng nghèo đói khốn khổ thì nhiều; người dịu dàng thanh nhã thì ít, chúng cang cường hung tợn thì nhiều; người chơn chánh ngay thẳng thì ít, bọn hồ đồ dua vạy thì nhiều; người tịnh hạnh thanh bạch thì ít, chúng tham lam ô trọc thì nhiều; người có tâm quảng đại bố thí thì ít, chúng gian xảo keo rít thì nhiều; người chí tín thành thật thì ít, kẻ dối trá quỷ quyệt thì nhiều.”
“Bởi vậy nên khiến cuộc đời gay gắt, đồng bào ruột thịt nỡ lòng tàn hại lẫn nhau, thêm phép quan quyền khắc khổ sưu cao thuế nặng, bá tánh chịu bề nghèo đói, thời kỳ khủng bách, công làm đổ mồ hôi chỉ đủ nuôi miệng ăn, có dư đâu mà bảo tồn vợ con?”
“Nguyên do vì đâu? Vì tâm tà vậy, tin theo việc hoang đàng, sở kiến ngược ngạo, nên nhân loại phải bị cái khổ nguy dường ấy. Cúi xin Ðức Thế Tôn vì lòng từ bi thương xót kẻ tà kiến, diễn nói các pháp chánh kiến cho chúng nghe, khiến được tỏ ngộ, phản tà quy chánh, mà thoát khỏi các nạn khổ kia vậy.”
Phật khen nói: “Ngươi luận nói như vậy hay lắm!”
“Này ông Vô Ngại Bồ tát! Ngươi có tâm từ bi thương đời lớn lắm. Nay ngươi muốn giúp các người tà kiến kia mà cầu hỏi ta về pháp chánh kiến, thật là phước đức ngươi to tát biết bao. Ngươi nay phải định thần nghe rõ ghi nhớ vào lòng, ta nay thương giúp ngươi mà phân tỏ, diễn nói Kinh Thiên Ðịa Bát Dương này. Kinh này không phải một mình ta mới nói thôi, chẳng những đời quá khứ các đức Phật đã nói rồi, và đời vị lai chư Phật sẽ nói, mà đời hiện tại nay chư Phật cũng đang nói nữa. Luận như trong trời đất đây, những hình tướng vạn hữu, thì duy có con người là tối linh trên muôn vật. Luận chữ Nhân là Chân, là làm con người phải có chân tâm, không tưởng quấy, thân nầy thi hành mỗi việc đều chánh trực. Cho nên chiết tự chữ Nhân đó coi, thì chữ Phúc bên trái gọi là Chân, còn chữ vệ bên phải kêu là Chánh, mình thường làm việc chánh chân nên kêu là chữ Nhân.”
“Cho nên có câu: Vi nhân mạc thuyết thành chân dị, nghĩa là ở đời đừng nói làm được con người là dễ, làm sao cho tư cách mình nó phù hợp với nghĩa lý chữ Nhân nầy mới được. Phải biết, người kia muốn dựng nên mối đạo, thì trước phải dùng chánh đạo mà sửa mình y theo chánh đạo, y theo nhân luân thì đều nên quả Phật.”
Phật lại gọi ông Vô Ngại Bồ tát nói: “Chân thân khó được mà nay hết thảy mọi người đời đã được chân thân rồi, tại sao lại không tu đường phước thiện, lại bỏ việc chánh chân đi làm điều giả dối, gây toàn là ác nghiệp đến khi thân mạng chết rồi, thần hồn sa đọa trong biển khổ, chịu đau đớn trăm bề. Bằng hết thảy người đời, được nghe kinh nầy, sanh tâm kính tín không trái nghịch, thì được thoát khỏi nạn hết tội khổ, đặng ra khỏi biển khổ, có các vị thiện thần thầm giúp, không việc chi ngăn trở, lại đặng trường thọ, không bao giờ chết yểu.”
“Vì sao được vậy? Là do nơi sức chánh tín mới được phước như vậy, nếu ai biên chép thọ trì đọc tụng, y theo chánh pháp mà tu hành, thì công đức của người đó vô lượng vô biên không tính kể xiết, đến ngày lâm chung, người ấy chắc chứng đặng quả Phật.”
Phật gọi: “Này ông Vô Ngại Ðại Bồ tát! Bằng có người nào tà tín, kiến thức ngược ngạo tức phải bị nạn, tà ma ngoại đạo, quỷ ly mị, quỷ vọng lượng, chim mèo chim ụt, chim cú chim heo kêu trăm điều dữ lạ, thêm loài ác quỷ ác thần, đến làm náo loạn trong nhà, vợ chồng cắn đắng nhau, cha con xào xáo, hoặc sanh các bịnh phi thường, chịu đủ hết các chứng bịnh khổ, không ngày nào giảm bớt. Bằng người ấy muốn cho hết tai nạn vừa nói đó, thì thỉnh ông thầy chơn tu, giúp tụng kinh nầy ba biến, thì các vị quỷ thần độc ác đều tiêu diệt hết, các bịnh dữ cũng tiêu trừ, thân thể được lành mạnh, phục sức như xưa. Ấy là nhờ công đức đọc tụng kinh này, mà chuyển họa thành phước vậy.”
“Phàm có người nào ưa muốn dâm dục, sân độc ngu si, gian tham tật đố, nhưng khi được nghe thấy kinh nầy, mà phát tâm chánh tín cúng dường, nguyện tụng kinh nầy ba biến, thì các việc dữ kể trước thảy đều tiêu diệt, phát tâm từ bi hỷ xả, sau đặng quả Phật.”
Phật gọi ông Vô Ngại nói: “Phàm có người thiện nam, tín nữ nào muốn làm việc hữu vi, trước phải tụng kinh nầy ba biến, rồi sau mới đắp nền xây tường dựng làm nhà cửa, hoặc làm nam đường bắc đường, đông lang tây lang, nhà bếp nhà khách, cửa ngõ, đào giếng, cối giã cối xay, kho tàng, chuồng trại, nuôi đồ lục súc v.v... hoặc rủi nhằm phương nhật du, phương nguyệt sát, tướng quân Thái tuế, cùng sao Huỳnh phan, sao Bát dĩ, ngũ thổ địa kỳ, Thanh long Bạch hổ, hoặc nhằm phương Chu tước Huyền vũ, Lục giáp cấm kỵ mười hai chi, mười can, xâm phạm phương thổ quỷ thần phục long, tất cả loài quỷ mỵ, vì trước khi mình làm các việc hữu vi, thì mình đâu có hiểu phương hướng và sao trạm mà lựa chọn, chỉ cứ tụng Kinh Bát Dương nầy. Nhờ oai thần của Phật hộ trì, tất cả quỷ mị thảy đều ẩn mất, tránh xa đi bốn phương, hình tiêu bóng mất, chẳng dám làm hại tới mình, việc được tốt lành, phước báu vô lượng.”
“Nay người thiện nam tín nữ, ai y theo lời Phật dạy tụng Kinh Bát Dương nầy, khi khởi công làm rồi, hoặc nhà cửa hoặc lâu đài, thì gia đạo được bình an lâu dài, thêm giàu sang vinh hiển, chẳng nhọc sức mưu cầu, mà tự nhiên có của tới.”
“Như có người nào đi phương xa, hoặc làm quan đi phó nhậm, hoặc tùng trong quân thứ, mà tụng Kinh Bát Dương nầy thì đều được lợi lành, nhà cửa được hưng thịnh, bậc người cao sang, con cháu vinh hiển, cha lành con thảo, trai trung bình chánh trực, gái trinh liệt hiền lương, anh em hòa thuận, phu xướng phụ tùy, gia đình hòa hảo, lòng tín nghĩa thờ đôi thân, chỗ nguyện chi đều được thành tựu cả, ấy là nhờ oai lực tụng Kinh Bát Dương này vậy.”
“Phàm có người nào bị quan quyền bắt buộc, hoặc án trộm cướp liên lụy tới mình, khi ấy tĩnh tâm tụng Kinh Bát Dương nầy ba biến liền đặng thoát khỏi tai nạn kia.”
“Phàm có người thiện nam tín nữ thường thọ trì đọc tụng, giúp người biên chép Kinh Bát Dương nầy, thì người ấy dẫu rủi sa trong nước lửa, cũng nhờ oai lực Phật, khỏi bị cháy chìm, bằng ở trong núi rừng có nhiều hùm sói thú dữ, mà nó thấy người thọ trì Kinh Bát Dương nầy thì độc trùng ác thú thảy đều lánh xa không bao giờ dám giết hại mạng, là vì người tụng kinh này có vị thiên thần theo hộ vệ, chẳng những vậy thôi mà sau lại còn chứng đặng quả Phật.”
“Hoặc có người nào, cuống lưỡi bén, nói dối, thêu dệt lời nói, nói lưỡi hai chiều, nói lời thô ác, mà người ấy tự biết lỗi chừa bỏ cứ đọc tụng kinh nầy thì tiêu hết bốn lỗi trước, lại đặng biện tài tứ vô ngại, sau đặng chứng quả vị Phật.”
“Này hết thảy thiện nam tín nữ! Phàm cha mẹ có tội, đến ngày lâm chung, chắc phải đọa vào nơi Âm cảnh, chịu khổ trăm phần nếu được trên thế gian con cháu thành tâm, tụng kinh này bảy biến, thì cha mẹ thoát khỏi khổ địa ngục, thần hồn đặng sanh về thiên thượng, đặng thấy Phật nghe pháp, lại đặng lực vô sanh pháp nhẫn, đặng trọn nên Phật đạo.”
Phật kêu ông Vô Ngại nói: "Kiếp quá khứ đức Phật Tỳ Bà Thi trị đời, vì thuở ấy có thiện nam tín nữ, tâm không tin bọn tà sư ngoại đạo, duy có lòng chánh tín kính trọng Phật pháp, ra công biên chép Kinh Bát Dương nầy, và thường thọ trì đọc tụng kinh nầy, muốn làm việc chi cứ nhất định làm, tất cả việc không cần bói toán xem coi ngày giờ chi cả, cứ lấy tâm chánh trực mà thôi. Do thiện nam tín nữ thời ấy có tâm chánh tín, cùng làm việc bố thí, giữ tâm bình đẳng cúng dường, nên mới được thân vô lậu, thành đạo quả Bồ tát, hiệu là Phổ Quang Như Lai, sau đặng thành bậc Chánh giác, kiếp đó gọi là kiếp Ðại Mãn, quốc hiệu là Vô Biên. Mà do vì sao mới được vậy? Là vì nhân dân thời ấy có tâm chánh tín, không còn mê tín tà sư ngoại đạo, cứ tu hành theo đạo Bồ tát là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ, mới được hưởng các sự phước báu như vậy, là nhờ oai lực chánh tín tụng Kinh Bát Dương nầy.”
Phật lại gọi ông Vô Ngại Bồ tát mà nói: “Kinh Bát Dương nầy, nếu trong cõi Nam Diêm Phù Ðề chỗ nào có để Kinh Bát Dương thì đều có năm vị Bồ tát, và các vị Phạm Thiên vương, cùng hết thảy vạn linh đồng vây xung quanh ủng hộ kinh ấy. Cho nên người tụng kinh nầy, phải sắm sửa hương hoa cúng dường như chư Phật còn tại thế không khác nhau vậy.”
Phật kêu ông Vô Ngại nói: “Bằng có thiện nam tín nữ nào trợ giúp người đời diễn nói kinh nầy, mình cùng người cho rõ thấu cái lý thiệt tướng, thông ngộ chỗ thậm thâm huyền diệu ấy, thời liền biết được nguyên lý của tâm mình, tâm Phật, tâm Pháp. Mình hiểu biết được vậy rồi thì tự nhiên mình được tánh trí huệ, lại được sáu căn thanh tịnh.”
“Một, mắt thường thấy các vật sắc chất mỗi loại số nhiều vô cùng, nhưng mà ngoài mắt vừa thấy, thì thần trí huệ ở trong đã phân biệt được rằng các sắc chất ấy nó thuộc về chỗ không mà ra, cái không kia nó thành ra vật sắc này, hiểu nổi cái sắc đây, thì đủ biết cả ngũ uẩn, cái thọ, cái tưởng, cái hành, cái thức, cũng thuộc về lý không, tức thị là đức Diệu Sắc Thân Như Lai.”
“Hai, tai thường nghe các tiếng nói, mỗi thứ tiếng nhiều vô cùng, nhưng lỗ tai vừa nghe, thì trí huệ đã phân biệt được những tiếng ấy đều thuộc về chỗ không, mà cái không nầy cũng là tiếng nói, tức là đức Diệu Âm Thanh Như Lai.”
“Ba, mũi thường ngửi các mùi trầm hương, mỗi mùi hương nhiều vô cùng, nhưng lỗ mũi vừa bắt mùi, thì trí huệ đã phân biệt được các mùi hương ấy thuộc về chỗ không, mà cái không nầy hóa ra trầm hương, ấy thiệt đức Hương Tích Như Lai.”
“Bốn, lưỡi thường nếm các mùi trong đời, cay đắng chua ngọt v.v... nhiều vô cùng, nhưng cuống lưỡi vừa nếm, thì trí huệ đã phân biệt được những mùi ấy đều thuộc về không, vì cái không tức thị là mùi đời, ấy thiệt đức Pháp Hỷ Như Lai.”
“Năm, thân thường biết các vật chi nó xúc chạm, mà vật xúc chạm nhiều vô cùng, và khi ngoài thân vừa xúc chạm, thì trí huệ đã phân biệt được các vật xúc chạm ấy thuộc về chỗ không, mà cái không nầy toàn là xúc chạm, ấy là đức Trí Thắng Như Lai.”
“Sáu, ý con người thường tư tưởng phân biệt mỗi việc không cùng, bởi vậy nhờ có thêm trí huệ, cho nên phân biệt được muôn pháp chi cũng đều thuộc về chỗ không, vì trong cái không đó có hiện bày ra muôn pháp, tức là đức Pháp Minh Như Lai.”
Phật bảo: “Này ông Vô Ngại Bồ tát! Phàm có thiện nam tín nữ nào, thấy sáu căn này bày hiện nhân gian đó, nơi miệng mình nói lời lành chánh thì nghiệp lành thêm nhiều, lại đặng nên Phật đạo. Miệng nói ra tiếng tà vạy thì việc ác mỗi ngày thêm nhiều, ắt phải đọa địa ngục, cam chịu quả báo đau khổ.”
Phật bảo: “Nầy ông Vô Ngại! Trong chân lý việc lành việc dữ, rõ ràng chắc chắn vậy, chẳng nên không tin. Ngươi phải hiểu, thân tâm mình thiệt là pháp khí của Phật, lại cũng như mười hai bộ Ðại Tạng Kinh, đã có từ đời vô thủy đến nay, mà tụng hoài vẫn không hết. Kinh tạng của Như Lai đây, duy có bậc thức tâm kiến tánh mới biết đặng mà thôi, chớ các bậc Thanh văn phàm phu làm sao hiểu thấu đặng!”
Phật kêu ông Vô Ngại nói nữa rằng: “Bằng có người nào đọc tụng kinh nầy mà tỏ ngộ chỗ thật tướng thì biết đặng thân tâm nầy hẳn thiệt là pháp khí của Phật. Còn như người nào say mê đường dục lạc, không tỉnh giấc mộng hồn, chẳng biết thân tâm mình là căn bổn của Phật pháp, chắc người đó phải trôi nổi trong sáu nẻo, đọa lạc trong ba đường dữ, đắm chìm nơi biển khổ, không nghe đặng danh hiệu Phật pháp.”
Lúc bấy giờ có năm trăm vị Thiên tử ở trong đại chúng nghe Phật thuyết pháp rồi, đều đặng thanh tịnh nơi pháp nhãn, rất đỗi vui mừng, liền phát tâm thành Phật.
Ông Vô Ngại Bồ tát lại bạch Phật rằng: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn! Hết thảy người đời, việc sanh tử là hệ trọng, cớ sao khi sanh chẳng lựa ngày, hễ đến giờ sanh thì sanh ra, đến khi chết cũng không lựa ngày, hễ đến giờ chết thì chết ngay, còn cái việc tẫn liệm an táng nầy lại lựa kiếm ngày lành, giờ tốt mới tẫn liệm an táng đặng sau con cháu giàu sang vinh hiển, thật là si mê. Mà trái lại sau khi liệm chôn rồi, chẳng thấy lành tốt chi cả, chỉ thấy có họa hại tới hoài, con cháu thì bần cùng khốn khổ, đó là phần nhiều, còn việc giàu sang thì ít thấy. Ngưỡng cầu Ðức Thế Tôn mở lượng từ bi, thương người tà kiến vô tri, xin Phật thuyết chánh pháp nhân duyên sanh tử là do đâu mà có, để cho người đời tỉnh ngộ trở về chánh đạo, không còn làm việc si mê ngược ngạo như trước nữa.”
Phật nói: “Lành thay! Hay thay! Ngươi nay vì có lòng thương những người mê muội, nên ân cần chí thiết cầu hỏi ta về việc sanh tử, cùng với pháp tẫn liệm an táng, vậy ngươi và cả thảy trong đại hội này hãy trụ thần lắng nghe, ta nay vì ngươi giảng thuyết cái lý trí tuệ và chánh pháp đại đạo vậy. Luận cái thể trời đất rộng lớn, còn mặt trời mặt trăng vẫn tỏ sáng hoài, thì năm tháng ngày giờ đều tốt cả, thiệt không có ngày nào khác lạ, ngày nào cũng tốt.”
Phật nói: “Thế gian bày ra có lịch số tính toán, là từ trước kia, bởi ông Nhân Vương Bồ tát có tâm từ bi quảng đại, thương xót người đời, cũng như cha mẹ thương xót con thơ, mới giáng sanh xuống trần làm vị nhân chúa, làm cha mẹ nhân dân. Từ đó mới thuận theo tánh của người đời mà dạy bày phong tục, làm ra lịch số, coi ngày coi giờ, coi niên vãng vận hạn địa lý, ban truyền trong thiên hạ, cho biết bốn mùa tám tiết mà dùng, biên ra có chữ trực bình, trực mãn, trực thành, trực thâu, trực khai, trực trừ, có văn chấp, nguy, phá, sát.”
“Ðó là xét chơn lý mà dùng, những người ám độn kia lại mê chấp y theo văn tự đó mà tin dùng, ắt không khỏi bị việc hung họa. Chẳng những vậy thôi, lại còn rước bọn tà sư về nhà an phù trấn trạch, nói luận lăng xăng, lên đồng nhập cốt, cầu khẩn tà thần, bái xá cúng lạy loài ngạ quỷ. Làm như thế thì gây thêm đường tội lỗi, sự lo phiền khổ não lại tự mình chịu. Những người như vậy, chẳng những gây họa lụy cho mình, lại còn mắc tội phản nghịch chánh lý của thiên địa. Vả lại người đời chẳng chịu làm lành tu phước y theo chánh giáo sửa mình, lại đi rước thầy ếm đối, cúng tế tà thần mà cầu cho mình tiêu tai khỏi họa ấy. Thí như bỏ ánh sáng của nhật nguyệt mà chun vào chỗ tối tăm, trái bỏ đường chính đạo, lại đi lầm đường tà giáo, những hạng người đó rất đỗi là ngược ngạo.”
Phật gọi ông Vô Ngại mà nói: “Hoặc có thiện nam tín nữ, đến ngày gần sinh sản, dạy họ trước nên tụng Kinh Bát Dương nầy ba biến, thì sanh con được mau dễ, thiệt là đại kiết lợi, đứa trẻ đặng khiếu thông minh trí huệ, phước đức đầy đủ, khỏi lo có nạn thương vong yểu tử. Còn trong lúc gần chết, cũng phải đọc Kinh Bát Dương nầy ba biến, thì được chết một cách an lành, thần hồn thảnh thơi tất cả không việc chi trở hại”.
Phật lại kêu ông Vô Ngại mà nói: “Ngày ngày đều tốt, tháng nào cũng vậy, mỗi năm cũng không xấu, có năm tháng ngày giờ nào chẳng tốt đâu, bởi vậy hễ sắm lo việc tẩn liệm an táng rồi, thì cứ tẩn liệm an táng ngay, không cần coi ngày giờ nữa, mà trước ngày giờ tẩn liệm an táng đó, phải tụng Kinh Bát Dương nầy bảy biến thiệt rất đại kiết lợi. Chẳng những linh hồn đặng phước vô lượng mà con cháu môn nhân cũng đặng giàu sang sống lâu thêm tuổi nữa, đến ngày mạng chung đều nên đạo Phật.”
Phật kêu ông Vô Ngại nói: “Như chỗ đất mai táng đó chẳng cần phân Ðông Tây Nam Bắc làm gì, xem cuộc đất an ổn thì đặng, người bằng lòng hỷ lạc, thì quỷ thần cũng ưng thuận hỷ lạc, nhưng phải đọc kinh nầy ba biến, rồi sẽ mai táng, an trí mộ phần, không có tai chướng họa hại chi cả, mà gia đình lại đặng giàu sang no ấm, thật là đại kiết lợi vậy.”
Khi đó, Ðức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ rằng:
Muốn làm việc chi cứ làm
Vì mỗi ngày đều tốt cả
Còn việc tẩn liệm an táng
Ngày giờ nào cũng tốt vậy
Khi sinh ra cùng khi chết
Các việc phải tụng Kinh Bát Dương
Thì đều đặng đại kiết lợi
Là vì mỗi tháng đều rất tốt
Mỗi năm cũng là đại hảo thời
Cho nên ai chí thành chánh tín
Ðọc kinh rồi tẩn liệm an táng
Thì phước thọ vinh hoa muôn đời.
Phật nói đến đây, trong đại chúng có bảy ngàn muôn người, khi nghe Phật nói chánh pháp rồi, thì lòng dạ mở thông sáng suốt, xả tà qui chánh, y đúng theo Phật pháp mà đoạn trừ lòng nghi hoặc, đều phát tâm cầu làm Phật.
Lúc bấy giờ ông Vô Ngại Bồ tát bạch với Phật rằng: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn, hết thảy người đời dùng việc cưới gả làm nghĩa chí thân, nhưng trước lại cần hỏi ngày sanh tháng đẻ, hợp cùng không hợp, sau xem lựa ngày tốt giờ tốt, rồi mới cưới gả. Khi cưới gả xong, hai đàng đã thành nghĩa chí thân rồi, cớ sao giàu sang sống lâu phần ít, còn nghèo khổ sanh ly tử biệt số nhiều. Hết thảy bọn tà tín bói toán lựa chọn đó, sao kết cuộc nó có sai khác vậy? Ngưỡng cầu Ðức Thế Tôn, xin dạy rõ chỗ đó, đặng dứt lòng nghi cho con và người đời.”
Phật nói: “Ta vì ngươi và cả thảy người đời mà nói, hãy định thần nghe cho rõ. Luật trong trời đất, về âm dương, nó tương đối với nhau, chớ không phải tuyệt đối, như mặt Nhật thuộc về khí dương, mặt Nguyệt thuộc về khí âm. Thủy thuộc âm, Hỏa thuộc dương, nam nữ âm dương ấy là cái khí trời đất hòa hiệp, cho nên hết thảy cỏ cây muôn vật nương theo khí âm dương đó mà hóa sanh vậy. Thể mặt Nhật mặt Nguyệt xoay vần bốn mùa tám tiết không sai, khí thủy hỏa nương nhau tạo nên muôn vật, con trai và con gái hòa hợp nhau mới có sanh sản ra con cháu. Tất cả việc ấy đều thiệt là đạo lý thường của trời đất, là lý tự nhiên, cũng là cái pháp thế đề vậy.”
“Nầy ông Vô Ngại! Ta thương hại cho người không học thức nên rất si mê, chẳng phân biệt tà chánh, lầm tin theo thầy tà, bày đặt bói toán kiết hung, mong cầu giàu sang sống lâu, mà không chịu làm lành tu phước, chỉ mãi gây ra trăm nghìn nghiệp dữ, chẳng những thân sống đây bị tai họa liên miên, sau khi thác rồi khó khỏi tam đồ khổ não. Bởi vậy nên thân mạng nầy chết rồi, số được lại thân người rất ít, ít như đất đọng đầu móng tay, còn số đọa trong địa ngục làm loài súc sanh ngạ quỷ lại nhiều lắm, nhiều như đám đất lớn.”
“Nầy ông Vô Ngại! Mà số người được lại thân người kia, những người phát tâm chánh tín tu hành thì ít quá, ít như đất đọng đầu móng tay, còn cái hạng tin theo tà sư gây tạo ác nghiệp thì nhiều lắm, nhiều như đám đất lớn.”
“Nầy ông Vô Ngại! Nay ta dạy cho rõ, như người đời muốn kết nghĩa hôn nhân ấy, chẳng cần hỏi mạng thủy hỏa khắc cùng không khắc, vì khi còn trong bào thai, cùng niên mạng chẳng đồng nhau, chỉ phải coi trong bộ sách lộc mạng thời biết việc phước đức nhiều hay ít, lấy đó mà kết làm quyến thuộc. Song đến ngày cưới gả, phải tụng Kinh Bát Dương nầy ba biến, thời đặng tốt lành thành tựu các việc.”
“Cho nên mình biết tu phước lành, thì ông thiện thần theo bảo hộ duyên lành tỏ sáng nương nhờ cùng nhau. Bởi thế nên được giàu sang, con cháu rỡ ràng hưng thịnh, thêm thông minh trí huệ, lại có tài năng siêu quần, xuất chúng, cư xử gia đình thảo thuận kính nhường, thiệt là đại kiết lợi không có nạn thương vong yểu tử, phước đức đều đầy đủ, sau lại nên Phật đạo.”
Khi ấy có tám vị Bồ tát, nương nhờ oai thần Đức Phật, chứng đặng pháp đại tổng trì, phát nguyện thường ở trong thế gian, hòa quang đồng trần với người thế tục, đem hết tinh thần năng lực mà phá diệt đám tà giáo, dựng lập nền chánh pháp như xưa, tiếp độ cả bốn loài, trọn nên tám pháp giải thoát. Danh hiệu tám vị Bồ tát biên ra sau đây:
Lúc đó tám vị Bồ tát ấy đều bạch Phật rằng: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn, chúng con nhân trước nhờ chư Phật truyền dạy pháp thần chú đà la ni nầy, nay chúng con nguyện nói thần chú ấy ra, để ủng hộ những người thọ trì đọc tụng Kinh Bát Dương không có chi lo sợ, khiến cho hết thảy mọi người và sự bất thiện chẳng dám làm việc tổn hại vị nào đọc tụng Kinh Bát Dương nầy.”
Khi ấy tám vị Bồ tát đồng ra trước Phật, tụng thần chú:
A ÐÀ NI, A ÐÀ NI, A TỲ LA, MẠNG LỆ MẠNG ÐÀ LỆ XÀ LÊ
Tám vị Bồ tát thưa với Phật: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn, phàm có chúng bất thiện nào, muốn đến làm việc não loạn vị nào tụng Kinh Bát Dương, hễ nó nghe chúng con đọc tụng thần chú trên tức thì đầu chúng nó bể ra bảy phần như nhánh cây a la lê vậy.”
Lúc bấy giờ ông Vô Biên Thân Bồ tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quì gối chấp tay đến trước Phật bạch rằng: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn, cớ sao kêu là Kinh Bát Dương, cầu xin Đức Thế Tôn giải nói rõ nghĩa Bát Dương, cho mỗi người chúng con nghe biết, đặng tỉnh ngộ bổn tâm thấu chỗ tri kiến như Phật hầu đặng đoạn hết lòng nghi hoặc.”
Phật kêu Vô Biên Thân nói: “Lời người vừa hỏi đó thật hay lắm, chúng ngươi hãy lắng thần nghe cho rõ, nay ta giúp trong đại chúng, giải nghĩa đề mục Kinh Bát Dương nầy. Chữ Bát đó nghĩa là phân biệt rành vậy. Chữ Dương đó nghĩa là giải tỏ cái lý đại thừa làm Phật và rõ đặng phân rành nhân duyên tám thức kia, nó không có chỗ nào đặng, không chỗ nào dính mắc cả.”
Phật nói tám cái thức đó nghĩa là bề ngang, chữ Dương Minh nghĩa là bề dọc; ngang dọc phù hiệp nhau, thành ra bộ kinh giáo, cho nên kêu là Kinh Bát Dương.
Tám cái thức là:
Như vậy đã phân biệt rành rẽ, cội gốc tám thức không có chỗ nào có, thì đâu có dính mắc chi đâu.
Phải biết hai con mắt vốn là thiện quang minh thiên, mà trong quang minh thiên đó lại hiện ra vị Thế Tôn Nhật Nguyệt Quang Minh. Hai lỗ tai thiệt là thinh văn thiên, mà trong thinh văn thiên đó lại hiện ra đức Vô Lượng Thinh Như Lai. Hai lỗ mũi thiệt là phật hương thiên, mà trong phật hương thiên đó lại hiện ra đức Hương Tích Như Lai. Cuống lưỡi thiệt là thiện pháp vị thiên, mà trong pháp vị thiên đó hiện ra đức Pháp Hỷ Như Lai. Cái thân thiệt là tỳ lô giá na thiên, mà trong tỳ lô giá na thiên đó lại hiện ra đức Phật Thành Tựu Tỳ Lô Giá Na. Người nào thấy biết tự tâm mình có đức kính tượng Phật, thì đó hiện ra đức Phật Tỳ Lô Xá Na Quang Minh. Cái ý thiệt là vô phân biệt thiên, mà trong vô phân biệt thiên đó lại hiện ra đức Bất Ðộng Như Lai. Cái tâm đó thiệt là pháp giới thiên, mà trong pháp giới thiên lại hiện ra đức Không Vương Như Lai. Cái thức hàm tàng thiệt là thức thiên, chứa hết thảy các pháp, hay diễn nói ra Kinh A Hàm và bộ Ðại Bát Nhã Niết Bàn Kinh. Còn cái thức A lại gia cũng to lớn bao trùm, cho nên diễn nói ra bộ Ðại Trí Ðộ Luận Kinh, và bộ Lăng Già Luận Kinh vậy.
Phật kêu ông Vô Biên Thân Bồ tát mà nói rằng: “Nầy ngươi phải hiểu, Phật đó là Pháp mà Pháp đó là Phật, hiệp lại làm một thể tướng, liền hiện ra đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai.”
Trong khi Phật nói Kinh Bát Dương nầy, thì hết thảy sơn hà đại địa, sáu phương trời đất chấn động, lại có ánh sáng chói lòa trời đất, vô cùng vô tận, lồng lộng mênh mông, không biết đâu mà kể cho xiết, mà hết thảy các chỗ tối tăm đều được tỏ sáng, hết thảy các chốn địa ngục cũng đều tiêu mất, hết thảy chúng tội nhân đều đặng thoát khổ.
Lúc bấy giờ trong đại chúng, kể số đặng tám muôn tám ngàn vị Bồ tát, đồng thời chứng quả Phật, đồng hiệu là Không Vương Như Lai, mà cái kiếp của tám muôn tám ngàn vị Bồ tát ấy chứng đặng quả Phật đó, tên là kiếp Ly Cấu, vị Phật xuất hưng cứu thế đời đó, tên là đức Vô Biên Phật, hết thảy nhân dân trong kiếp đó đều đặng quả vị Bồ tát.
Vì đồng tu pháp lục độ, quyết tu thời thành tựu không có lòng bỉ thử tật đố, nên chứng đặng bực vô tránh tam muội. Còn thầy Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ đều đặng pháp tổng trì và đặng thâm ngộ vào lý nhứt thừa của Phật, có vô số trong hàng thiên long, chúng Dạ xoa, thần Càn thát bà, thần A tu la, thần Ca lầu la, thần Khẩn na la, thần Ma hầu la dà, nhân cùng với phi nhân, hết thảy đều đặng chỗ pháp nhãn thanh tịnh sáng suốt mà tu hành Bồ tát đạo.
Phật kêu Vô Biên Thân Bồ tát mà nói rằng: “Phàm có người nào đến ngày thăng quan tiến chức, cùng ngày khánh hạ tân gia, phải thực hành trai giới, đọc tụng kinh nầy ba biến, sẽ đặng phước đức rất lớn, có các vị thiện thần đi theo ủng hộ, cả gia tộc đều được khương ninh trường thọ.”
“Bằng có người thiện nam tín nữ, phát tâm đọc tụng kinh nầy một biến, thì có phước đồng như tụng hết thảy các bộ kinh khác, nếu như biên chép Kinh Bát Dương nầy một quyển, thì công đức bằng biên chép hết thảy kinh khác, công đức nhiều đến vô lượng vô số, lớn bằng hư không chẳng biết bờ bến đâu mà nói cho hết phần công đức ấy được, mà các vị đó tương lai đều nên quả Phật cả.”
“Lại vầy nữa Vô Biên Bồ tát, phàm trong chúng sanh có người nào chẳng tin theo chánh pháp của Phật, tâm chấp tà kiến, thoảng như có nghe Kinh Bát Dương nầy lại sanh tâm khinh dễ, gọi kinh nầy không phải là lời Phật nói, thì người đó hiện ở thế gian phải mang các chứng bệnh dữ, cả mình máu mủ chảy đầy, ghẻ lác lở lói, tanh hôi dơ uế, ai thấy cũng nhờm gớm.”
“Chẳng những vậy thôi, mà còn hành cho đến ngày chết, thần hồn phải đọa vào địa ngục Vô Gián, chịu khổ quỷ sứ hành hình, bắt bỏ nằm trên giường sắt nóng, lửa trên cháy xuống, lửa dưới hừng lên, còn thêm quỷ ngưu đầu cầm giáo sắt đinh ba đâm xỉa nát nhừ châu thân. Mấy chú Dạ xoa lại đem nước đồng sôi rót vào miệng, thì gân xương nát bấy rã rời, luồng gió nghiệp thổi tới, sống hoàn hình lại, kế đó bị quỷ xúm lại hành tội nữa, hành một ngày đêm một muôn lần sống chết như vậy, chịu các sự đau nhức, không có giây phút nào ngừng nghỉ. Vì tại bọn người này không tin nhân quả, khinh chê kinh giáo thánh hiền, nên phải bị quả báo đến như vậy.”
Phật thương xót những người tội đó bèn nói bài kệ như vầy:
Thân nầy có ra cũng tự nhiên
Năm vóc kia tự nhiên có đủ
Trưởng đại đó tự nhiên trưởng đại
Lão thành kia tự nhiên lão thành
Sanh ra đó tự nhiên sanh ra
Ngày chết kia tự nhiên phải chết.
Mình cầu sống lâu đều chẳng được
Muốn cho chết sớm cũng khó nỗi
Việc khổ việc vui tự mình gây
Việc tà việc chánh tự mình làm.
Muốn khởi công làm những việc chi
Cứ tụng kinh chẳng cần bói toán
Ngàn đời muôn kiếp được phước lớn
Ðặng đạo thành Phật chuyển pháp luân.
Khi Phật nói Kinh Bát Dương nầy rồi, hết thảy trong đại chúng đồng khen pháp nầy xưa nay chưa từng nghe, nay đặng nghe những lời huyền diệu rồi, lòng dạ tỏ sáng, vui mừng hớn hở, đều bày hiện sắc tướng chư Phật, mà chẳng phải tướng chư Phật, là vì còn chấp có tướng, nên tri thấu vào chỗ tri kiến của Phật, tỏ ngộ chỗ tri kiến của Phật rồi, mà cũng không chấp chỗ thấu vào, và không chấp chỗ tỏ ngộ đó, không nên chấp một pháp nào cả, như thế mới chứng đặng cái vui của cõi Niết bàn.
Khi ấy Đức Thế Tôn muốn nói lại những lời mầu nhiệm nên nói bài kệ như vầy:
Thân tướng tốt sáu căn trọn đủ
Hết thảy các thiện nam tín nữ
Tâm vui thích làm việc bố thí
Ðặng thân nầy không nên xan tham.
Người phụ nữ nghe đặng kinh nầy
Phát tâm hớn hở rất vui mừng
Sau này thoát đặng thân phụ nữ
Sanh ra đặng làm thân nam tử.
Các việc đao binh hại chẳng đặng
Ðộc trùng thú dữ hại không đặng
Quan quyền cùng các việc đạo tặc
Muốn hại người đó cũng chẳng đặng.
Người đời thấy yêu mến kính nhường
Trăm ngàn tai họa đều tiêu hết
Từ thủy chí chung hại chẳng đặng
Nam nữ thảy phải tụng kinh này
Thì đặng phước báu như trước nói.
Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát cùng với đức Di Lặc Bồ tát, lại có bốn vị đại Thiên vương đồng bạch Phật rằng: “Ngưỡng bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con nương oai thần của Ðức Thế Tôn đồng nhau nguyện theo ủng hộ Kinh Bát Dương nầy, chúng con đồng gắng sức cứu giúp bảo hộ, ở đời như người nào có bịnh khổ chi, mà chí tâm đọc tụng kinh nầy, thì chúng con sẽ hỗ trợ cho tiêu trừ các bịnh.”
Khi đó các vị Bồ tát cùng ngài Xá Lợi Phất và thầy Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện nam tín nữ với các hàng thiên, long, quỷ thần, chúng A tu la, chuyển luân thánh vương, thảy đều đảnh lễ Phật, vui mừng tín thọ phụng hành theo chánh pháp của Đức Phật dạy.
Lời các vị Bồ tát khen Phật:
Kinh Bát Dương thiệt là đạo chân chánh
Ba đời hàng chư Phật nói rất rõ ràng
Tám vị Bồ tát cũng đều thầm giúp
Chư vị Thần minh cùng nhau vây quanh.
Ðời quá khứ tu phát huệ thành Phật
Hiện nay ai nghe nhớ mau tỏ ngộ
Phàm làm việc chi phải tụng kinh nầy
Người lành ấy nào có bị yểu vong.
Ta nay khắp nguyện hết thảy các loài
Chỗ cầu nguyện chi đều đặng tròn đủ
Ðời vô thủy đến nay bị vọng thức
Có thân này ra gian nan khốn khổ.
Bốn đại và tham sân si lừng lẫy
Sáu căn cùng thập truyền thập sử buộc ràng
Ầm ầm gió nghiệp thổi tấn bước tới
Non vô minh dựng trước mặt lờ mờ
Nhiễm mê dục lạc hồn phải chơi vơi
Lửa vô căn tham sân si hừng cháy
Niệm nhớ ái ân trong biển sanh tử
Lai láng nổi trôi dòng nước vọng tình.
Như thế mà muốn giải thoát thì khó
Như rùa mù mong gặp bộng cây trôi
Như hạt cải gieo mũi kim khó trúng
Phật ở trong thân đâu phải Phật khác
Thánh Hiền lập giáo chỉ sửa tâm người.
☸ Nam mô Ðức Vô Ngại Bồ tát
NẲNG MỒ TAM MÃN ĐA, MẪU ĐÀ NẨM. A BÁT RA ĐỂ, HẠ ĐA XÁ TA NẲNG NẨM. ĐÁT DIỆT THA. ÁN, KHÊ KHÊ, KHÊ HỂ, KHÊ HẾ, HỒNG HỒNG, NHẬP PHẠ RA, BÁT RA NHẬP PHẠ RA, BÁT RA NHẬP PHẠ RA, ĐỂ SẮC XÁ, ĐỂ SẮC XÁ, SẮC TRÍ RỊ, SẮC TRÍ RỊ, TA PHẤN TRA, TA PHẤN TRA, PHIẾN ĐỂ CA, THẤT RỊ DUỆ, TA PHẠ HA.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin đấng Từ Bi thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Hộ Pháp thường ủng hộ.
☸ Nam mô Tiêu Tai Giáng Cát Tường Bồ tát
☸ Nam mô A Di Đà Phật
☸ Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
☸ Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát
☸ Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát
☸ Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát
☸ Nam mô Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ tát
☸ Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ tát
☸ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai
☸ Nam mô Phổ Quang Như Lai
☸ Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
☸ Nam mô Diệu Âm Thanh Như Lai
☸ Nam mô Hương Tích Như Lai
☸ Nam mô Pháp Hỷ Như Lai
☸ Nam mô Trí Thắng Như Lai
☸ Nam mô Pháp Minh Như Lai
☸ Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Như Lai
☸ Nam mô Vô Lượng Thanh Như Lai
☸ Nam mô Thành Tựu Tỳ Lô Giá Na Như Lai
☸ Nam mô Kiến Tượng Như Lai
☸ Nam mô Lô Xá Na Quang Minh Như Lai
☸ Nam mô Ðại Thông Trí Thắng Như Lai
☸ Nam mô Bất Ðộng Như Lai
☸ Nam mô Không Vương Như Lai
☸ Nam mô Vô Biên Như Lai
☸ Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát
☸ Nam mô Phổ Hiền Bồ tát
☸ Nam mô Vô Ngại Bồ tát
☸ Nam mô Nhân Vương Bồ tát
☸ Nam mô Bạc Ðà Bà La Bồ tát
☸ Nam mô La Lân Na Kiệt Bồ tát
☸ Nam mô Kiều Việt Ðẩu Bồ tát
☸ Nam mô Na La Diên Bồ tát
☸ Nam mô Tu Di Thâm Bồ tát
☸ Nam mô Nhân Kỳ Ðạt Bồ tát
☸ Nam mô Hòa Luân Ðiều Bồ tát
☸ Nam mô Vô Duyên Quang Bồ tát
☸ Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát
☸ Nam mô Di Lặc Bồ tát
☸ Nam mô Xá Lợi Phất Bồ tát
Kinh Bát Dương bí mật
Pháp mầu nhiệm khó biết
Bậc tam thừa tỏ thấu đặng thành Phật
Thêm sáu trí đặng trọn đủ rõ ràng
Muôn đức đều rực rỡ
Các vị Phật giáng ứng chốn đạo tràng
☸ Nam mô Đức Vô Ngại Bồ tát
Ðệ tử kính lạy Ðức Phật Thích Ca, Phật A Di Ðà, mười phương chư Phật, vô lượng Phật Pháp cùng Thánh Hiền Tăng.
Ðệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc.
Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm, thành tâm sám hối, thệ tránh điều dữ, nguyện làm việc lành.
Ngửa trông ơn Phật, từ bi gia hộ: Thân không tật bịnh, tâm không phiền não. Hằng ngày an vui tu tập Phật pháp nhiệm mầu. Ðể mau ra khỏi luân hồi, minh tâm kiến tánh, trí tuệ sáng suốt, thần thông tự tại. Ðặng cứu độ các bậc tôn trưởng, cha mẹ anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
Phúng kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sinh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện sinh Tây phương Tịnh Độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sinh
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật đạo.
Tự quy y Phật
Đương nguyện chúng sanh
Thể giải đại đạo
Phát vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp
Đương nguyện chúng sanh
Thâm nhập kinh tạng
Trí tuệ như hải.
Tự quy y Tăng
Đương nguyện chúng sanh
Thống lý đại chúng
Nhất thiết vô ngại.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.